Trang chủ › Điểm đến › Triệu Hưng và các trại người Miêu ở vùng núi Kiềm Đông Nam
Điểm đến

Triệu Hưng và các trại người Miêu ở vùng núi Kiềm Đông Nam

THÁP GỖ NGƯỜI ĐỒNG VÀ CÁC BẢN NGƯỜI MIÊU
Làng Triệu Hưng nhìn ngang: bên phải nổi lên một ngôi tháp trống gỗ nhiều tầng mái cong, tầng trên sơn đỏ, đứng cạnh những nếp nhà gỗ mái ngói xám; trước mặt là khoảng sân đất và vũng nước phản chiếu chân tháp, phía sau là sườn núi phủ rừng xanh dưới nền trời nhạt.
Ảnh: Wikimedia Commons · SONG1907 · CC BY-SA 4.0

Một thung lũng, năm ngôi tháp gỗ và hai dân tộc

Ở góc đông nam tỉnh Quý Châu, nơi địa giới ba tỉnh Quý Châu, Hồ Nam và Quảng Tây gần như chạm vào nhau, có một thung lũng nhỏ mà hai bên sườn là rừng thông và rừng trúc. Dưới đáy thung lũng, hai con suối nhập thành một dòng chảy xuyên qua làng, và dọc theo dòng nước là những nếp nhà gỗ xếp sát nhau, ở giữa mọc lên năm ngôi tháp gỗ cao vút. Đó là Triệu Hưng, làng của người Đồng, được người trong vùng gọi là "thôn Đồng thứ nhất".

Triệu Hưng thuộc huyện Lê Bình, châu tự trị dân tộc Miêu và Đồng Kiềm Đông Nam, tỉnh Quý Châu. Làng nằm trên trục đường nối đồng bằng Quảng Tây với cao nguyên Quý Châu, nên từ bao đời đã là nơi giao thương và là chỗ người Đồng, người Miêu cùng sinh sống. Bài này kể về Triệu Hưng và những bản người Miêu nằm quanh nó.

Ngôi tháp trống: gỗ, mộng, và không một cái đinh

Thứ khiến Triệu Hưng khác mọi làng khác là năm ngôi tháp trống, người Đồng gọi là lầu trống, đứng giữa năm khoảnh làng. Người Đồng xưa nay theo lệ "một làng một họ, một họ một lầu"; Triệu Hưng gồm năm dòng họ lớn nên có năm lầu, mỗi lầu mang tên một chữ trong năm đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Không ngôi nào giống ngôi nào về chiều cao, số tầng và lối trang trí.

Lầu cao nhất là lầu đoàn Tín, nằm ở đầu làng phía được ví là đuôi con thuyền. Các nguồn khi ghi chiều cao của lầu này không hoàn toàn khớp: một số tài liệu nêu 11 tầng, cao khoảng 24,37 mét, một số khác nêu gần 25,9 mét. Điểm chắc chắn là toàn bộ lầu dựng bằng gỗ sam, ghép bằng mộng và ngàm gỗ, không dùng một cái đinh sắt nào, mái lớp lên từng tầng theo kiểu chồng diêm.

Tháp trống không phải nơi thờ thần mà là nhà chung của cả họ. Đó là chỗ họp việc làng, xử việc tranh chấp, tiếp khách, và cũng là nơi đặt trống để đánh lên mỗi khi có việc cần gọi dân làng. Bộ năm lầu trống của Triệu Hưng được xem là trường hợp duy nhất ở Trung Quốc có năm lầu liền nhau trong một làng, và đã được ghi vào sách kỷ lục Guinness.

Tiếng hát không người chỉ huy đã được thế giới công nhận

Người Đồng có câu: "Cơm nuôi thân, hát nuôi tâm". Thứ âm nhạc làm nên tên tuổi của họ là dân ca Đồng. Đây là lối hát nhiều bè, không có người chỉ huy, không có nhạc cụ đệm, chỉ có giọng người chia thành bè cao và bè thấp hòa vào nhau. Lời hát thường bắt chước tiếng chim, tiếng côn trùng, tiếng suối chảy; nội dung ca ngợi tự nhiên, lao động, tình yêu và tình bạn.

Năm 2009, dân ca Đồng được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc ghi vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nghệ thuật này truyền từ đời này sang đời khác bằng lối thầy hát dạy trò qua miệng, không có bản nhạc ghi lại. Ban đêm, quanh các lầu trống và cầu mưa gió, người trong làng vẫn thường ngồi hát với nhau; một số buổi biểu diễn do làng tự tổ chức thì miễn phí, còn các suất diễn dàn dựng cho khách có bán vé, thường bán quanh mức vài chục nhân dân tệ một người.

Cây cầu chở được cả mưa và cả lời hát

Bên cạnh tháp trống là những cây cầu gỗ bắc ngang dòng nước, gọi là "cầu mưa gió", vì trên cầu có mái che mưa nắng. Vì được vẽ nhiều màu sắc nên người ta còn gọi là "cầu hoa". Dọc hai bên thành cầu có ghế dài để ngồi nghỉ, giữa cầu có một gác nhỏ. Người trong làng thường ra cầu ngồi chuyện trò, hát, và trai gái dùng nơi đây để hát giao duyên — tục này gọi là "hát đối".

Các trại người Miêu ở vùng núi quanh Triệu Hưng

Đi ra khỏi thung lũng Triệu Hưng, địa hình lập tức dựng lên thành núi cao. Vùng Kiềm Đông Nam là nơi người Miêu định cư từ rất sớm, sau nhiều đợt di cư từ phương bắc xuống. Các bản Miêu ở đây nằm trên sườn núi, cách nhau vài chục ki-lô-mét đường đèo, và mỗi bản giữ một nét riêng.

Bát Sa — bản người Miêu vẫn giữ súng

Bát Sa là bản Miêu nổi tiếng nhất trong vùng, nằm ở huyện Tòng Giang, cách thị trấn Bính Muội chừng 7,5 ki-lô-mét về phía nam, dưới chân núi Nguyệt Lượng. Theo tài liệu của cơ quan du lịch, bản gồm ba làng tự nhiên, 16 tổ dân cư, hơn 450 hộ và hơn 2.200 người. Từ Triệu Hưng tới Bát Sa đi ô tô mất khoảng một tiếng.

Điều khiến Bát Sa được cả nước biết tới là việc đàn ông trong bản được phép mang súng hỏa mai. Đây là trường hợp ngoại lệ hiếm hoi và có căn cứ pháp lý: bản được cơ quan công an cấp phép đặc biệt để giữ súng, nên Bát Sa được gọi là "bộ lạc xạ thủ cuối cùng". Khách vào bản thường gặp lễ đón ở cổng làng, trong đó có nghi lễ bắn súng chào mừng; lễ này được tổ chức vào một số giờ nhất định trong ngày, thường là buổi sáng và đầu giờ chiều.

Đàn ông Bát Sa để tóc theo lối cổ: cạo gần hết tóc quanh đầu, chỉ giữ lại phần giữa búi thành búi tóc. Cách cạo tóc truyền thống là dùng lưỡi liềm, và nghi thức cạo đầu bằng liềm nay được trình diễn cho khách xem. Người Bát Sa tự nhận là hậu duệ của người con trai thứ ba của Xi Vưu; đây là truyền thuyết dân gian của bản, không phải ghi chép của sử sách.

Điều quan trọng hơn cả súng có lẽ là rừng và tục chôn cất. Người Bát Sa coi cây là thần, không chặt cây nếu không bất đắc dĩ. Khi một người sinh ra, gia đình trồng cho họ một "cây sinh mệnh"; khi người đó mất, cây ấy được hạ xuống để làm quan tài, huyệt không đắp mô, không dựng bia, và trên huyệt lại trồng một cây mới. Người trong bản gọi đó là để sự sống tiếp tục trong cây. Rừng cạnh bản vì thế mà giữ được rất lâu, dù đất canh tác eo hẹp.

Tây Giang — ngôi làng nghìn nóc nhà

Nếu Bát Sa là bản nhỏ giữ phong tục, thì trại người Miêu Tây Giang Thiên Hộ là làng lớn nhất của người Miêu còn đứng được ở Trung Quốc. Làng nằm ở huyện Lôi Sơn, dưới chân núi Lôi Công, bên bờ sông Bạch Thủy, hợp thành từ hơn mười bản nhỏ như Dương Bài, Đông Dẫn, Nam Quý nối liền nhau.

Số liệu dân cư ở đây thay đổi theo thời điểm công bố: thống kê năm 2005 ghi 1.288 hộ với khoảng 6.000 người, tỉ lệ người Miêu gần 99,5 phần trăm; một số tài liệu khác nêu hơn 1.400 hộ, hơn 6.000 người. Cái tên "thiên hộ" trong tiếng Hán nghĩa là "nghìn hộ", và con số ấy đúng với thực tế ngôi làng. Lịch sử của làng được cho là kéo dài hơn hai nghìn năm, gắn với một trong những đợt di cư lớn của người Miêu.

Nhà ở Tây Giang là nhà sàn gỗ, tiếng địa phương gọi là "điếu cước lâu", tức nhà có chân treo. Theo cách dựng, có loại dựng trên đất phẳng và loại dựng áp vào sườn dốc, chân trước kê cột cao để lấy mặt bằng; có nơi dựng trên sườn dốc tới 30 đến 70 độ. Nhà thường ba tầng: dưới cùng để nông cụ và chuồng gia súc, giữa là chỗ ở, trên cùng để thóc và lương thực. Nghề dựng nhà sàn của người Miêu Tây Giang được ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2006. Làng được công nhận là khu thắng cảnh cấp 4A năm 2011.

Làng Đường An và ruộng bậc thang

Gần Triệu Hưng, phía trên sườn núi, là bản Đường An với những thửa ruộng bậc thang xếp từ chân núi lên tới tận làng. Từ Triệu Hưng có đường đi bộ dài khoảng 3,2 ki-lô-mét tới đây; người địa phương vẫn đi lại hằng ngày. Ruộng bậc thang ở Đường An được nhắc tới nhiều vì một lý do cụ thể: đây là nơi người dân canh tác theo lối hạn chế thuốc trừ sâu và phân hóa học, nước được chia cho từng thửa qua hệ thống mương gỗ và đá.

Đi lại, vé vào cửa và mùa nên tới

Triệu Hưng nay rất dễ tới vì có ga tàu cao tốc Tòng Giang chỉ cách làng chừng 5 ki-lô-mét. Từ ga, khách đi xe buýt hoặc xe trung chuyển của khu thắng cảnh vào làng. Giá vé vào Triệu Hưng ở các nguồn ghi khác nhau, khoảng từ 50 đến 78 nhân dân tệ cho người lớn, trẻ thấp dưới 1,2 mét miễn phí, học sinh được giảm; xe điện trong làng tính thêm khoảng 10 nhân dân tệ một lượt. Từ Triệu Hưng đi Bát Sa khoảng 34 ki-lô-mét, đi xe mất chừng 50 phút tới một tiếng.

Mùa đẹp nhất để đi là mùa xuân và mùa thu; mùa hè mưa nhiều nhưng là mùa các bản tổ chức nhiều lễ hội, còn mùa đông lạnh và có sương. Vì đây là vùng sinh sống thật của người Đồng và người Miêu, khách nên hỏi trước khi chụp ảnh cận mặt người trong bản, và nên mua hàng thủ công như vải nhuộm chàm hay đồ bạc trực tiếp từ người làm để tiền ở lại trong bản.

Nguồn: Tân Hoa Xã — 文化中国行:走进贵州黎平肇兴 感受古风新韵侗寨情 · Quang Minh nhật báo — 肇兴侗寨:在文旅融合中让民族特色更加鲜亮 · The Paper — 肇兴侗寨怎么玩?鼓楼、梯田、非遗体验全指南 · Hiệp hội Giao lưu Du lịch Hai bờ — 槍手部落:岜沙苗寨 · Wikipedia tiếng Trung — 西江千户苗寨

Đứng giữa thung lũng Triệu Hưng, năm ngôi tháp gỗ của người Đồng mọc lên giữa những nếp nhà sàn, tất cả ghép bằng mộng gỗ, không dùng một cái đinh. Cách đó một tiếng xe, người Miêu ở Bát Sa vẫn giữ súng hỏa mai, và vẫn trồng cây khi một đứa trẻ sinh ra, hạ cây ấy xuống khi người đó qua đời.
Thấy hữu ích?
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.
Theo dõi Page