Tấn Từ ở Thái Nguyên: cầu chữ thập cổ nhất và suối ba mươi năm mới chảy lại
Thái Nguyên — thành phố hai nghìn năm trăm tuổi bên sông Phần
Thái Nguyên là tỉnh lỵ Sơn Tây, nằm ở phía bắc bồn địa Tấn Trung, ba mặt là núi: phía đông là Thái Hành Sơn, phía tây là Lữ Lương Sơn, phía bắc là Hệ Chu Sơn và Vân Trung Sơn. Sông Phần, chi lưu lớn thứ hai của Hoàng Hà, chảy xuyên qua thành phố dài khoảng một trăm ki-lô-mét. Thành phố có hơn hai nghìn năm trăm năm tuổi, từng là kinh đô của nhiều triều đại nên còn được gọi là Long Thành, nghĩa là thành Rồng.
Cái tên Thái Nguyên xuất hiện lần đầu trong Tả Truyện, thiên Chiêu Công năm thứ nhất, ở câu chuyện Đài Đài khơi dòng Phần Hà và Thao Hà, đắp đập ngăn đầm lớn để dân ở được trên khoảng đất bằng. Năm 497 trước Công nguyên, Đổng An Vu, gia thần của Triệu Giản Tử nước Tấn, đắp thành Tấn Dương ở bờ bắc sông Tấn, với chu vi bốn dặm và tường cao bốn trượng. Đó là khởi điểm của thành phố.
Năm 455 trước Công nguyên, Trí Bá cùng hai họ Hàn và Ngụy đánh họ Triệu, dẫn nước sông Phần làm ngập thành Tấn Dương. Triệu Tương Tử thuyết phục hai họ quay giáo, rồi tháo nước ngược vào doanh trại Trí Bá, bắt sống và giết Trí Bá. Trí Bá chết ở trận ấy, nhưng con kênh ông cho đào để dẫn nước vào thành vẫn còn; đời sau nạo vét và dùng nó làm kênh tưới. Đến hôm nay, kênh ấy chảy ngay trong khuôn viên đền Tấn Từ mà bài này sẽ nói ở phần sau.
Đời Đường, Thái Nguyên là đất phát tích của hoàng tộc họ Lý. Năm 690, Võ Tắc Thiên nâng phủ Thái Nguyên lên hàng Bắc Đô; năm 742, Đường Huyền Tông đổi tên thành Bắc Kinh, quy định hai huyện Tấn Dương và Thái Nguyên là huyện kinh, các huyện còn lại là huyện kỳ, nghi thức ngang với hai kinh Lạc Dương và Trường An. Khi ấy thành gồm ba tòa liền nhau, mở hai mươi bốn cửa, tường thành cao hơn tường thành Trường An một trượng rưỡi.
Năm 979, Tống Thái Tông Triệu Quang Nghĩa đánh diệt nhà Bắc Hán đóng đô ở Tấn Dương. Vì trận đánh khó hơn dự liệu, nhà vua ra lệnh đốt thành Tấn Dương rồi dẫn nước sông Phần và sông Tấn vào san phẳng nó. Ba năm sau, năm 982, một thành Thái Nguyên mới được dựng lên ở trấn Đường Minh cũ, cách nơi cũ bốn mươi dặm về phía bắc, và giao cho Phan Mỹ cùng Dương Nghiệp trấn giữ. Đó là lý do trung tâm Thái Nguyên ngày nay nằm lệch về phía bắc thành Tấn Dương cũ.
Đời Minh, Thái Nguyên là một trong chín trấn biên quan. Tần vương Chu Cương được phong đất ấy và cho mở rộng thành: tường chu vi mười bốn ki-lô-mét, cao khoảng mười tám mét, hào sâu mười mét, bốn góc có lầu, tám cổng thành, chín mươi hai lầu nhỏ và ba mươi hai ụ chiến đấu. Nạn đói lớn thời Quang Tự làm dân số Sơn Tây sụt nghiêm trọng, tuy các con số thương vong đến nay vẫn rất chênh lệch giữa các tài liệu nên tôi chỉ xin nêu sự kiện mà không trích con số cụ thể. Đầu thế kỷ hai mươi, Thái Nguyên là trung tâm công nghiệp nặng dưới quyền Diêm Tích Sơn, nơi có xưởng vũ khí lớn nhất vùng phía nam Trường Thành; năm 1937 thành bị quân Nhật chiếm, và năm 1949 được giải phóng sau chiến dịch Thái Nguyên kéo dài nửa năm.
Tấn Từ — khu vườn thờ cổ nhất còn lại của Trung Quốc
Đền Tấn Từ nằm dưới chân núi Huyền Ung, ở trấn Tấn Từ, quận Tấn Nguyên, cách trung tâm Thái Nguyên khoảng hai mươi lăm ki-lô-mét về phía tây nam. Đền được dựng để thờ Đường Thúc Ngu, vị quân chủ khai quốc của nước Tấn, và mẹ ông là Ấp Khương, nên tên gọi đầu tiên là từ đường Đường Thúc Ngu. Người ta coi đây là khu vườn thờ của hoàng gia còn lại sớm nhất ở Trung Quốc.
Văn bản sớm nhất nhắc tới đền nằm trong Thuỷ Kinh Chú của Lịch Đạo Nguyên đời Bắc Ngụy, tả cảnh dựa núi gối sông, có từ đường Đường Thúc Ngu, bên nước có nhà mát, và trên mặt nước bắc một cây cầu bay. Như vậy là đến đời Bắc Ngụy, đền, nhà mát và cầu đã có đủ; nếu tính từ đó, lịch sử khu đền đã hơn một nghìn năm trăm năm. Thời gian cụ thể khởi dựng thì đến nay vẫn chưa xác định được.
Các mốc lớn nối tiếp nhau: dưới triều Bắc Tề, niên hiệu Thiên Bảo từ 550 đến 559, vua Văn Tuyên Đế Cao Dương lấy Tấn Dương làm đô thứ hai và mở rộng đền, dựng lầu xây ao, các đình đọc sách, Vọng Xuyên, Lưu Bôi, Dũng Tuyết, cùng các đình Nan Lao, Thiện Lợi đều ra đời trong giai đoạn này. Niên hiệu Khai Hoàng nhà Tùy, từ 581 đến 600, thêm tháp Xá Lợi Sinh Sinh. Năm 646, niên hiệu Trinh Quán thứ hai mươi đời Đường, Đường Thái Tông Lý Thế Dân đến đền, viết bia Tấn Từ Chi Minh Tịnh Tự và cho mở rộng thêm một lần nữa; tấm bia hiện được lưu ở nhà bia Trinh Quán Bảo Hàn.
Năm 979, sau khi đốt thành Tấn Dương, nhà Tống cho xây dựng rầm rộ ở Tấn Từ và dựng bia Thái Bình Hưng Quốc để ghi việc ấy. Đến niên hiệu Thiên Thánh đời Tống Nhân Tông, từ 1023 tới 1032, nhà vua truy phong Đường Thúc Ngu làm Phần Đông Vương và cho dựng điện Thánh Mẫu quy mô lớn để thờ mẹ ông là Ấp Khương. Từ đó vai trò của khu đền đổi hẳn: điện Thánh Mẫu trở thành chính điện, còn từ đường Đường Thúc Ngu bị dời sang phía bắc, xuống hàng thứ yếu. Năm 1168, niên hiệu Đại Định thứ tám đời Kim, điện Hiến được dựng thêm ở phía đông cầu Phi Lương để làm nơi bày đồ cúng.
Có một chỗ sử liệu không khớp mà tôi ghi lại để người đọc biết: bài về thành phố Thái Nguyên trên Wikipedia tiếng Trung gắn việc điện Thánh Mẫu hoàn thành với mốc năm 1059, khi nhà Tống lập lại phủ Thái Nguyên; bài về Tấn Từ trên cùng bộ bách khoa lại ghi điện khởi công trong niên hiệu Thiên Thánh từ 1023 tới 1032 và được trùng tu năm 1102. Cả hai đều là mốc nhà Tống, nhưng chênh nhau mấy chục năm và tôi không có cách phân xử.
Về sau, đền nhiều lần hư vì động đất và lũ, chính quyền các đời cũng sửa chữa mỗi lúc một khác. Tháng 3 năm 1961, Tấn Từ được xếp vào lô đầu tiên các di tích quốc gia trọng điểm. Năm 1990, cơ quan quản lý đổi tên thành Bảo tàng Tấn Từ Thái Nguyên. Từ năm 1993 tới 1996, điện Thánh Mẫu được tháo rời toàn bộ và trùng tu rồi lắp lại. Năm 2001, khu đền được xếp hạng 4A, tới tháng 5 năm 2024 được công nhận bảo tàng cấp một quốc gia. Năm 2024, bảo tàng đón 4,375 triệu lượt khách.
Điện Thánh Mẫu và bốn mươi ba pho tượng đất nung
Điện Thánh Mẫu là công trình cổ nhất còn lại trong khu đền. Điện quay mặt về hướng đông, mái trùng thiềm kiểu hiết sơn, bề ngang bảy gian, chiều sâu sáu gian, cao khoảng mười chín mét, thân điện gần vuông. Hai thủ pháp xây dựng đáng chú ý nhất là hành lang vây quanh bốn mặt và cách giảm cột trong lòng điện: người xây chỉ để lại một hàng cột trong, nhờ vậy gian trước rộng thênh thang, đúng nhu cầu của một nơi thờ tự đông người chiêm bái.
Hành lang trước điện có tám cây cột gỗ chạm rồng cuộn — đây là những cây cột rồng gỗ cổ nhất còn lại ở Trung Quốc. Rồng và cột được chạm riêng: cột tròn làm trước, rồng đẽo sau rồi ghép quanh cột bằng mộng.
Trong điện có bốn mươi ba pho tượng đất nung, trong đó hai pho được đắp lại thời Minh, số còn lại là tượng đời Bắc Tống. Tượng chủ vị là Thánh Mẫu ngồi trong khám gỗ, trên đầu đội mũ phượng, mặc áo bào thêu rắn, thần sắc trang nghiêm. Bốn mươi hai pho còn lại là thị nữ xếp hai bên ngoài khám, mỗi người cầm một thứ khác nhau, kẻ hầu ăn uống, người chải đầu quét dọn, tạo thành một bức tả sinh hoạt cung đình bằng đất nung. Tượng được đánh giá là tinh phẩm điêu khắc đời Tống vì gương mặt mỗi người một khác, không pho nào giống pho nào.
Cây cầu hình chữ thập bắc qua ao Cá
Ngay trước điện Thánh Mẫu là một trong những cấu kiện lạ nhất của kiến trúc cổ Trung Quốc: ao Ngư Chiểu và cầu Phi Lương. Ao hình vuông, là nguồn nước thứ hai của hệ Tấn Thuỷ; người xưa gọi ao vuông là chiểu, trong ao nhiều cá nên có tên ao Cá. Giữa ao dựng ba mươi bốn cây cột đá tám cạnh, trên đầu cột kê đấu củng và dầm gỗ đỡ mặt cầu hình chữ thập.
Nhánh cầu đông tây dài 19,6 mét, rộng năm mét, mặt cầu cao hơn nền 1,3 mét, một đầu nối điện Hiến, đầu kia nối điện Thánh Mẫu. Nhánh cầu bắc nam dài 19,5 mét, rộng 3,3 mét, hai đầu dốc xuống ngang mặt đất. Dưới đáy nước là chân cột; đế cột đá tám cạnh được chạm hình cánh sen úp, mang phong cách Bắc Triều. Cách đấu củng gỗ ăn khớp với dầm để truyền lực từ mặt cầu đá xuống cột đá, rồi xuống nền, nhờ đó mà mặt cầu đá đứng vững trên mặt nước gần một nghìn năm.
Cầu hiện nay được sửa theo nguyên dạng năm 1955, dựa trên cây cầu đời Bắc Tống còn đứng trước đó; cột đá và đấu củng giữ được dáng cũ, còn lan can là bản phỏng dựng thời hiện đại theo sách Doanh Tạo Pháp Thức. Đây là cây cầu giao thông thuỷ bộ còn lại sớm nhất của Trung Quốc, và cũng là ví dụ duy nhất còn sót của kiểu cầu hình chữ thập. Kiến trúc sư Lương Tư Thành khi khảo sát năm 1934 đã khen kiểu cầu này là một hình thức kỳ lạ, đẹp, tuy sách cổ có nhắc nhưng thực vật còn lại chỉ có một. Ông cũng khen đôi sư tử sắt trước cầu, trên thân có ghi niên hiệu Chính Hòa năm thứ tám, tức năm 1118, là cực kỳ tinh xảo, gân thịt như thật, sống động như đang thở.
Ba thứ được gọi là tuyệt
Người Trung Quốc gọi ba thứ trong đền là tam tuyệt: cây bách đời Chu, suối Nan Lao và tượng nữ tì đất nung đời Tống. Ba cấu kiện kiến trúc đẹp nhất thì gọi là tam bảo: điện Thánh Mẫu, cầu Phi Lương và điện Hiến.
Cây bách đời Chu nằm bên trái điện Thánh Mẫu, thân nghiêng khoảng bốn mươi độ, tán phủ lên mái điện, dáng như rồng nằm nên còn có tên bách rồng nằm. Truyền thuyết nói cây được trồng từ đời Tây Chu, tức khoảng ba nghìn năm. Đây là truyền thuyết, không phải kết quả đo tuổi thân cây, nên cần đọc cho đúng. Đời Tống, Âu Dương Tu đã làm thơ khen cây này, nghĩa là cách đây chín trăm năm nó đã được coi là cổ thụ. Trong đền còn một cây hòe cổ ở miếu Quan Đế; có tài liệu gọi là hòe đời Tùy, có tài liệu gọi là hòe đời Đường, hai cách nói không thống nhất.
Suối Nan Lao nằm phía nam điện Thánh Mẫu, là nguồn chính của Tấn Thuỷ. Tên suối được đặt từ đời Bắc Tề, lấy từ câu thơ trong Kinh Thi, nghĩa là ban cho mãi mãi không già. Nước suối trong, nhiệt độ giữ ở mức mười bảy độ quanh năm, lưu lượng trung bình khoảng 1,8 mét khối mỗi giây, phun ra từ tầng đá sâu khoảng năm mét dưới mặt đất. Suối còn có tên dân dã là mắt biển phía nam. Hệ Tấn Thuỷ có ba mạch là Nan Lao, Ngư Chiểu và Thiện Lợi, trong đó Nan Lao lớn nhất và là mạch chảy không ngừng.
Dưới chân cầu Phi Lương và quanh khu suối, người ta bố trí một quần thể công trình nước: mắt suối bảy lỗ tám cửa, cột giữa dòng, tháp Trương Lang, những chiếc thuyền không buộc, đê chữ nhân, động rửa tai, đình Chân Thú, rồi tới đình Nan Lao có biển đề và lầu Thuỷ Mẫu ở trên.
Suối Nan Lao đã cạn rồi chảy lại
Đây là phần đáng nói nhất với người đến Tấn Từ hôm nay. Do khai thác nước ngầm và khai thác than trong nhiều thập kỷ, suối Tấn Từ cạn dần và tới thập niên 1990 thì đứt dòng hẳn. Nhiều người địa phương đã nghĩ rằng sẽ không bao giờ còn thấy suối Nan Lao chảy nữa.
Bước ngoặt đến chậm. Từ năm 2008, mực nước ngầm đá vôi trong khu vực thôi giảm và bắt đầu dâng trở lại. Ngày 14 tháng 5 năm 2023, suối Nan Lao lần đầu tự phun nước trở lại. Năm 2023, suối chảy tổng cộng 133 ngày, mực nước cuối năm đo được 0,36 mét. Năm 2024, số ngày chảy tăng lên 273 ngày, tức hơn bảy mươi lăm phần trăm thời gian của năm, mực nước cuối năm lên 1,12 mét, cao hơn cùng kỳ năm trước 0,76 mét. Ngày 17 tháng 1 năm 2025, suối Nan Lao đạt trạng thái phục dòng ổn định; trong năm 2025, suối không đứt dòng vào mùa hè và giữ được dòng chảy suốt một chu kỳ tròn năm.
Năm 2026, con số tiếp tục đi lên: ngày 19 tháng 3, mực nước suối Nan Lao đo được 804,70 mét, cao hơn miệng suối 2,11 mét và cao hơn đầu năm 0,23 mét, mức cao nhất kể từ ngày phục dòng. Về phía chính quyền, quận Tấn Nguyên triển khai một loạt công trình: sửa lại 16,6 ki-lô-mét kênh chính và 85 ki-lô-mét kênh nhánh của hệ thống thuỷ nông Tấn Từ, xử lý sinh thái chín con suối cạn từ phía nam núi Mông Sơn tới giáp huyện Thanh Từ, đồng thời đóng bớt giếng khoan và hạn chế khai thác than. Suối Tấn Từ trở thành ví dụ tiêu biểu của công tác xử lý khai thác nước ngầm quá mức ở Sơn Tây và cả vùng Hoa Bắc.
Đi trong đền: thứ tự và những thứ dễ bỏ qua
Khu đền chia làm ba phần trục giữa, phía bắc và phía nam. Đi theo trục giữa từ cổng vào, thứ tự lần lượt là Thuỷ Kính Đài, cầu Hội Tiên, đài Kim Nhân, phường Đối Việt, lầu chuông và lầu trống, điện Hiến, cầu Phi Lương, cuối cùng là điện Thánh Mẫu.
- Thuỷ Kính Đài vốn là sân khấu hát. Mặt phía đông là kết cấu mái hai lớp kiểu hiết sơn đời Minh, là hậu trường khi diễn. Điều lạ là dưới sàn sân khấu có tám cái chum nước, cứ hai chiếc úp vào nhau thành một cặp, cả thảy bốn cặp, dùng làm loa cộng hưởng để tiếng hát vang xa hơn. Cách tăng âm bằng chum nước ấy là một chi tiết kỹ thuật đáng xem.
- Đài Kim Nhân là một nền vuông 8,5 mét mỗi cạnh, bốn góc có bốn pho tượng sắt cao khoảng hai mét, đúc để trấn nước giữ đền, nguyên cầm binh khí nhưng nay binh khí không còn. Pho góc tây nam còn nguyên vẹn nhất, đúc năm 1097; pho góc đông nam đúc năm 1089 là pho sớm nhất và là pho duy nhất mặc giáp, đầu được đắp lại về sau; pho góc tây bắc đúc năm 1098, tay trái đã gãy, đầu đúc lại năm 1423; pho góc đông bắc nguyên đúc năm 1090 nhưng nay là bản đúc bù năm 1913. Giữa nền có một gác lưu ly dựng thời Minh, cao khoảng bốn mét.
- Phường Đối Việt dựng năm 1576, là ví dụ hiếm của phường gỗ thời Minh vì phần lớn phường thời Minh làm bằng đá. Hai bên có lầu chuông và lầu trống dựng năm 1606. Truyền thuyết kể rằng nhà thư pháp Cao Ứng Nguyên vì mẹ đau đầu lâu ngày nên cầu thẻ và được mách phải thêm công trình cho đền, ông bèn dựng phường này và mẹ khỏi bệnh; chữ Đối Việt trên biển do ông viết. Đây là chuyện dân gian, không phải chép sử.
- Điện Hiến dựng năm 1168, cao 9,75 mét, ngang ba gian, sâu bốn rui, mái hiết sơn một lớp, bốn mặt không tường không cửa nên trông như một cái đình lớn. Lương Tư Thành nhận xét kết cấu dầm của điện chỉ là một lớp dầm đơn giản, nhẹ và không phí vật liệu, nhờ vậy mà bền lâu.
Xen giữa các công trình còn nhiều thứ khác: từ đường Đường Thúc Ngu đã dời sang phía bắc, miếu Hạo Thiên, cung Văn Xương, lầu Thuỷ Mẫu, gác Lữ Tổ ở phía nam, cùng tháp Xá Lợi Sinh Sinh trong viện Phù Đồ. Ở phía đông lầu Thuỷ Mẫu có nhà lưu niệm Phó Sơn, danh y, danh hoạ và danh sĩ Thái Nguyên thời Minh mạt Thanh sơ. Cũng cần phân biệt rõ: tượng Thuỷ Mẫu trong lầu, ngồi trên một cái chum, tóc còn chưa búi xong, gắn với truyền thuyết dân gian về một người con gái họ Liễu ở làng Kim Thắng bị mẹ chồng hành hạ, được ban một cây roi thần và cuối cùng hoá thành thần nước. Đó là truyền thuyết, không phải nhân vật lịch sử. Bên cạnh, kênh Trí Bá chảy qua khu đền lại là chuyện có thật, gắn với Trí Bá và trận Tấn Dương năm 455 trước Công nguyên đã nhắc ở đầu bài; kênh này về sau thành kênh tưới chính của vùng, tưới cho hàng vạn mẫu ruộng.
Đi cùng Tấn Từ: vài điểm quanh Thái Nguyên
Ai đã lên Thái Nguyên thì nên ghép Tấn Từ với những nơi gần đó, vì các điểm này cùng kể một câu chuyện về một thành phố hai lần bị đốt và hai lần dựng lại:
- Chùa Song Tháp, tức Vĩnh Tộ Tự, ở phía đông nam thành phố: khởi dựng năm 1597, ban đầu chỉ có một tháp phía đông mang tên Văn Phong, hoàn thành năm 1599; đó là tháp phong thuỷ do hai cha con Phó Lâm và Phó Chi Mô dựng để bù cho thế văn vận của thành phố. Năm 1608, Tấn vương mời thiền sư Diệu Phong từ chùa Hiển Thông trên Ngũ Đài Sơn về mở rộng chùa, tới năm 1612 hoàn thành tháp phía tây tên Tuyên Văn và nhà vô lương, và đổi tên chùa thành Vĩnh Tộ. Hai tháp đều tám cạnh, mười ba tầng, cao khoảng 54,7 mét; đây là quần thể tháp gạch đôi lớn nhất, cao nhất và hoàn chỉnh nhất còn lại của Trung Quốc, và hình đôi tháp nằm trên huy hiệu của thành phố. Chùa được xếp hạng di tích quốc gia năm 2006.
- Hang đá Thiên Long Sơn: một quần thể chạm đá lớn bắt đầu đục từ đời Đông Ngụy khi quyền thần Cao Hoan cho xây cung tránh nóng. Nơi đây gắn với một câu chuyện trùng tu nổi tiếng: tượng Phật chủ hang số 8 bị cắt cụt đầu và trôi dạt ra nước ngoài khoảng năm 1924, đến ngày 14 tháng 9 năm 2020 thì xuất hiện tại một nhà đấu giá ở Tokyo, được giám định đúng là pho bị mất. Ngày 12 tháng 12 năm 2020, pho đầu tượng về tới Bắc Kinh; tối giao thừa ngày 11 tháng 2 năm 2021, pho đầu tượng là cổ vật thứ một trăm hồi hương trong năm 2020 xuất hiện trên truyền hình đại chúng cả nước; ngày 24 tháng 7 năm 2021, nó được chính thức giao cho Bảo tàng Hang đá Thiên Long Sơn, trở thành cổ vật đầu tiên từ Nhật trở về với chính nơi nó bị lấy đi.
- Bảo tàng Sơn Tây, chùa Sùng Thiện do Tấn vương xây cho mẹ là hoàng hậu Mã, và các khu chợ cũ dọc sông Phần.
Đến Tấn Từ, điều dễ bỏ qua nhất là thời điểm. Suối chỉ mới chảy lại từ năm 2023, cây bách nghiêng vẫn được dựng chống, và tượng đất nung đời Tống không thể rời khỏi chỗ. Ba thứ ấy chỉ xem được bằng cách đi tới tận nơi, và xem bằng mắt chứ không bằng điện thoại.
Nguồn: Wikipedia tiếng Trung — Tấn Từ · Wikipedia tiếng Trung — Thành phố Thái Nguyên · Baidu Baike — Tấn Từ · Nhân dân nhật báo kênh Sơn Tây — Phẩm cổ kiến chi mỹ, tầm Tam Tấn chi căn · Tân Hoa Xã kênh Sơn Tây — Ký sự phục dòng suối Tấn Từ
Đền Tấn Từ có ba thứ được gọi là tuyệt: cây bách tương truyền trồng từ đời Chu, bốn mươi ba pho tượng nữ tì đất nung đời Tống, và một dòng suối. Dòng suối ấy đã cạn khô gần ba mươi năm, mãi tới tháng 5 năm 2023 mới tự trào trở lại — và đến năm 2025 thì chảy không ngừng suốt cả năm.
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.