Trang chủ › Điểm đến › Núi Kỳ Liên và hành lang Hà Tây: dãy núi giữ cửa ngõ sang Tây
Điểm đến

Núi Kỳ Liên và hành lang Hà Tây: dãy núi giữ cửa ngõ sang Tây

DÃY NÚI GIỮ CỬA NGÕ SANG TÂY
Thung lũng dưới chân dãy Kỳ Liên Sơn: những đỉnh núi phủ tuyết trắng ở phía xa, phía trước là các đồi đất đỏ và vàng bị xói mòn thành rãnh, xen giữa là rừng thông xanh và những vạt ruộng xếp theo đường đồng mức.
Ảnh: Wikimedia Commons

Một hành lang rộng vài chục ki-lô-mét kẹp giữa hai cao nguyên

Trên bản đồ tỉnh Cam Túc, dải đất này mỏng như một sợi dây thắt lưng. Nó chạy chếch từ đông nam lên tây bắc, dài khoảng một nghìn một trăm ki-lô-mét tính từ dãy Ô Sao Lĩnh ở phía đông tới cửa quan Ngọc Môn ở phía tây. Phần lòng hành lang, tức chỗ đi lại và trồng trọt được, chỉ rộng bốn mươi tới một trăm ki-lô-mét; tính cả hai bên sườn thì khoảng một trăm đến hai trăm ki-lô-mét. Toàn bộ diện tích chừng hai trăm bảy mươi sáu nghìn ki-lô-mét vuông, tức gần sáu mươi phần trăm diện tích tỉnh Cam Túc, nhưng năm 2011 chỉ có khoảng 4,82 triệu người sống trong đó — chưa bằng một phần năm dân số tỉnh.

Phía nam hành lang là cao nguyên Tạng, nơi mặt đất đã cao hơn bốn nghìn mét và khí hậu lạnh khô. Phía bắc là các dãy Long Thủ Sơn, Hợp Lê Sơn, Mã Tông Sơn, rồi tới sa mạc Badain Jaran và hoang mạc Gobi. Hai bên đều là vùng khó sống. Ở giữa là một dải phẳng tương đối thấp, từ độ cao khoảng một nghìn năm trăm mét ở đầu đông nam giảm dần xuống khoảng một nghìn mét ở đầu tây bắc — đủ thấp để trồng trọt, đủ bằng để đi lại. Vì thế đây là con đường bộ duy nhất khả thi nối đồng bằng Trung Nguyên với Tây Vực. Tên "Hà Tây" nghĩa đen là "phía tây con sông", tức phía tây khúc sông Hoàng Hà uốn quanh cao nguyên Ordos; sử cũ còn gọi vùng này là Hà Hữu, Lương Châu hay hành lang Cam Túc.

Điều đáng chú ý là hành lang không phải một dải đất liền mạch mà là một chuỗi ốc đảo. Giữa các ốc đảo là những đoạn hoang mạc và bãi đá. Con đường cũ vì thế luôn phải bám theo các ốc đảo, và mỗi ốc đảo là một điểm dừng bắt buộc: Vũ Uy, Kim Xương, Trương Dịch, Tửu Tuyền, Gia Dục Quan, Đôn Hoàng, từ đông sang tây. Năm thành phố cấp địa khu nằm trong hành lang hiện nay cũng gần như trùng với danh sách ấy.

Bảy dãy núi song song và hơn ba nghìn sông băng

Bức tường phía nam hành lang là dãy Kỳ Liên Sơn. Dãy núi này không phải một mạch núi đơn độc mà là bảy đường sống núi chạy song song theo hướng tây bắc - đông nam, kéo dài khoảng tám trăm năm mươi ki-lô-mét, với tổng bề rộng của cả hệ lên tới hai trăm đến bốn trăm ki-lô-mét. Đây là một nhánh tách ra ở phía bắc của hệ Côn Lôn, đồng thời là rìa đông bắc của cao nguyên Tạng và là biên giới tự nhiên giữa hai tỉnh Thanh Hải và Cam Túc. Đường sống núi ngoài cùng, sát hành lang nhất, được gọi riêng là Nam Sơn hành lang, đỉnh cao nhất của nó là đỉnh Kỳ Liên, 5.547 mét. Các đường sống núi còn lại đều có đỉnh cao nhất nằm trong khoảng 5.153 tới 5.827 mét — gần như ngang nhau, một đặc điểm ít gặp ở các hệ núi khác.

Đỉnh cao nhất toàn dãy là đỉnh Đoàn Kết ở dãy Sơ Lặc Nam Sơn, cao 5.826,8 mét theo số liệu thường được dùng, nhưng có tài liệu ghi 5.808 mét. Đây là chỗ sử liệu chưa thống nhất: cùng một đỉnh mà hai con số chênh nhau gần hai chục mét, và các nguồn vẫn chưa chốt được con số nào. Dưới chân dãy, phía quay ra hành lang, độ cao chỉ khoảng 2.200 tới 2.300 mét; các thung lũng nằm giữa các đường sống núi ở độ cao 2.800 tới 3.400 mét. Nói cách khác, từ lòng hành lang lên tới các thung lũng trong núi là một bậc thang cao gần một nghìn mét, và phần lớn hệ núi không có người ở thường xuyên.

Trên hệ núi này có khoảng ba nghìn ba trăm lẻ sáu sông băng, tổng diện tích chừng hai nghìn không trăm sáu mươi hai ki-lô-mét vuông. Lượng mưa hằng năm từ 250 tới 600 mi-li-mét, đủ để hình thành các đồng cỏ núi và các khu rừng lá kim xen kẽ nhau; từ độ cao khoảng 2.800 mét trở lên có những vạt cỏ lớn thuận cho chăn nuôi. Từ năm 2017, một vùng rộng 5,02 vạn ki-lô-mét vuông — tức khoảng năm mươi nghìn hai trăm ki-lô-mét vuông — được lập thành Công viên Quốc gia Kỳ Liên Sơn theo hình thức thí điểm thể chế, một trong mười công viên quốc gia đầu tiên của Trung Quốc. Vùng này chia làm hai phần: Cam Túc 3,44 vạn ki-lô-mét vuông và Thanh Hải 1,58 vạn ki-lô-mét vuông, tổng cộng chỉ hơn bốn mươi mốt nghìn người sinh sống bên trong.

Ba con sông giữ cho chuỗi ốc đảo sống được

Ba con sông lớn nuôi hành lang là Thạch Dương Hà ở phía đông, Hắc Hà ở giữa và Sơ Lặc Hà ở phía tây. Cả ba đều bắt nguồn từ tuyết và băng tan trên Kỳ Liên Sơn, chảy về phía đông bắc, tạo thành những cánh đồng phù sa hình quạt ở cửa sông rồi cạn dần trong các bồn địa nội lưu giữa hoang mạc. Đây là những con sông nội lưu — không có cửa ra biển; nước cuối cùng ngấm xuống đất, bốc hơi, hoặc đọng lại thành hồ. Hắc Hà đi xa nhất, tới tận hồ Đông Cư Diên trong địa phận Nội Mông.

Vì cả ba con sông đều sống bằng tuyết tan trên cùng một dãy núi, hành lang Hà Tây phụ thuộc vào Kỳ Liên Sơn theo nghĩa rất trực tiếp: ít tuyết thì thiếu nước, thiếu nước thì ốc đảo teo lại và hoang mạc tiến vào. Các nghiên cứu trong những thập niên gần đây đều ghi nhận tốc độ tan băng ở Kỳ Liên Sơn tăng lên. Đây cũng là lý do vùng này được đặt vào cơ chế công viên quốc gia: đối tượng bảo vệ không phải một khu rừng nhỏ mà là cả hệ nguồn nước của miền tây bắc.

Khi hành lang đổi chủ: từ người Nguyệt Chi tới quân Hán

Dấu vết con người ở đây có từ rất sớm. Khoảng bốn nghìn tám trăm năm trước, những người trồng kê từ phía tây cao nguyên Hoàng Thổ đã vào định cư trong hành lang; họ mang theo kỹ thuật gốm vẽ có nguồn gốc từ miền bắc Trung Quốc, và chính từ vùng này kê được truyền tiếp sang Trung Á. Ở di chỉ thuộc văn hoá Mã Gia Diêu trong hành lang, người ta tìm thấy những đồ đồng cổ nhất từng biết ở Trung Quốc, niên đại khoảng năm nghìn tới bốn nghìn năm trăm năm trước. Khoảng bốn nghìn hai trăm năm trước, kỹ thuật luyện đồng được đưa vào, và trong giai đoạn bốn nghìn tới ba nghìn năm trăm năm trước, số đồng khai quật ở hành lang Hà Tây chiếm tới khoảng bảy mươi phần trăm toàn bộ số đồ đồng thời tiền Thương phát hiện được ở Trung Quốc. Lúa mì và đại mạch từ vùng Lưỡng Hà cũng theo con đường này vào đây khoảng bốn nghìn năm trước, rồi từ đây mới vào nội địa.

Về sau, vùng đất này là nơi ở của người Nguyệt Chi, người Ô Tôn và các nhóm Tạng - Miến. Cuối thời nhà Tần, người Nguyệt Chi mạnh lên và cùng với người Đông Hồ ở phía đông cao nguyên Mông Cổ gây sức ép lên người Hung Nô. Nhưng tới khoảng năm 205 tới 202 trước Công nguyên, thiền vu Mặc Đốn đánh bại Nguyệt Chi nhiều lần; năm 162 trước Công nguyên, Lão Thượng thiền vu đánh bại họ một lần nữa và chiếm hành lang. Phần lớn người Nguyệt Chi đi về phía tây tới Trung Á lập nên Đại Nguyệt Chi, số còn lại gọi là Tiểu Nguyệt Chi. Năm 176 trước Công nguyên, người Hung Nô nắm hoàn toàn con đường này.

Bước ngoặt đến năm 121 trước Công nguyên. Hán Vũ Đế sai Hoắc Khứ Bệnh mở chiến dịch Hà Tây, đánh bại hai bộ lạc Hưu Đồ Vương và Hồn Tà Vương của người Hung Nô và lấy toàn bộ hành lang. Nhà Hán lập bốn quận ở đây — Vũ Uy, Trương Dịch, Tửu Tuyền, Đôn Hoàng, gọi chung là Hà Tây tứ quận — rồi đặt đồn điền và lính thú dọc đường, đồng thời kéo dài Vạn Lý Trường Thành về phía tây tới cửa quan Ngọc Môn, cách Đôn Hoàng khoảng tám mươi ki-lô-mét. Phần lớn các nhà nghiên cứu coi việc nhà Hán nắm được Hà Tây là mốc mở đầu của con đường tơ lụa theo nghĩa một tuyến thương mại có kiểm soát. Năm 60, nhà Hán lập Đô hộ phủ Tây Vực. Có được hành lang, nhà Hán vừa tiến được vào bồn địa Tarim vừa cắt đứt liên hệ giữa người Hung Nô và người Khương ở phía nam.

Câu ca của người Hung Nô

Sử liệu để lại một bài ca ngắn được cho là của người Hung Nô sau khi mất hai ngọn núi: "Mất Kỳ Liên Sơn của ta, khiến sáu loài gia súc của ta không sinh sôi; mất Yên Chi Sơn của ta, khiến đàn bà của ta không còn sắc đẹp." Bài ca này không nằm trong chính sử nhà Hán mà xuất hiện muộn hơn, trong sách Tây Hà cựu sự của người Bắc Lương thời Thập lục quốc (thế kỷ thứ tư tới thứ năm), rồi được các sách chú giải về sau dẫn lại với vài chữ khác nhau. Đến đời Tống, Quách Mậu Thiến đưa bài ca vào Nhạc phủ thi tập và đặt tên là bài ca Hung Nô, nhưng lời trong đó cũng có dị bản. Vì vậy nên xem đây là một bài ca được ghi chép lại và truyền tụng, chứ không phải văn bản đương thời: nguyên bản mất, người chép đời sau, lời có nhiều bản.

Phần chắc chắn hơn là địa lý. Yên Chi Sơn nằm ở phía bắc hành lang, gần Trương Dịch, đỉnh cao nhất trong bảng liệt kê là Bách Hoa Lĩnh 3.978 mét. Còn tên gọi "Kỳ Liên" thì vẫn chưa ngã ngũ. Nhan Sư Cổ đời Đường chú giải sách Hán thư rằng "Kỳ Liên Sơn tức Thiên Sơn, người Hung Nô gọi trời là Kỳ Liên"; nhưng chính thiên Hung Nô truyện của Hán thư lại chép "người Hung Nô gọi trời là Xanh Lê", tức Tengri trong tiếng Mông Cổ và tiếng Đột Quyết. Một số nhà ngôn ngữ cho rằng "Kỳ Liên" không tìm được từ tương ứng trong tiếng Mông Cổ hay Đột Quyết, nhưng lại gần âm và gần nghĩa với chữ "thiên" (trời) của tiếng Hán thượng cổ, nên có thể đây là địa danh gốc Hán được các dân tộc phương bắc vay mượn. Nói gọn: nghĩa "núi trời" là cách giải thích phổ biến, nhưng chưa được chứng minh.

Đồng cỏ Sơn Đan và ngựa chiến

Ở đoạn giữa hành lang, dưới chân dãy Lãnh Long Lĩnh, có một vùng cỏ rộng gọi là quân mã trường Sơn Đan. Nơi đây được cho là lập từ năm 121 trước Công nguyên, sau khi Hoắc Khứ Bệnh đánh đuổi người Hung Nô, khi nhà Hán lập bốn quận và tổ chức các trại chăn ngựa cho quân đội. Sơn Đan là trại chăn ngựa hoàng gia hoạt động liên tục lâu nhất, và theo tài liệu của chính quyền Trương Dịch, đây là trại ngựa lớn nhất châu Á và từng đứng thứ hai thế giới, sau khi trại Đông Hà của Liên Xô tan rã thì giữ vị trí thứ nhất. Diện tích được ghi là 329,54 vạn mẫu, tức hơn hai nghìn một trăm chín mươi ki-lô-mét vuông, độ cao trong khoảng 2.420 tới 4.930 mét, đất trải trên địa phận sáu huyện của hai tỉnh Cam Túc và Thanh Hải.

Ngày nay trại vẫn là một đơn vị chăn nuôi và nông nghiệp, nhưng vai trò quân sự đã hết — ngựa chiến không còn là phương tiện chiến tranh. Cảnh quan quanh đó thì gần như giữ nguyên: cỏ xanh tới tận chân các vệt tuyết trắng trên Lãnh Long Lĩnh, mùa hè mát, mùa đông khô vàng. Với người đi đường, đây là chỗ dễ hình dung nhất cảnh tượng mà các sử liệu mô tả: một vùng cỏ rộng nuôi ngựa, có núi tuyết làm tường chắn phía nam.

Sắc màu Trương Dịch và lớp đá đỏ của Kỳ Liên

Phía bắc Kỳ Liên Sơn, trong địa phận huyện Lâm Trạch và huyện Túc Nam, có khu địa chất Thất Thái Đan Hà Trương Dịch, thường được gọi là núi cầu vồng. Khu này rộng năm mươi ki-lô-mét vuông, phần khách đi lại được khoảng bốn ki-lô-mét vuông, cách trung tâm thành phố Trương Dịch khoảng bốn mươi ki-lô-mét về phía tây, độ cao trung bình khoảng một nghìn tám trăm hai mươi mét. Địa hình ở đây là những lớp đá trầm tích mỏng nằm nghiêng: bùn kết, bùn cát kết và đá phiến xếp xen nhau, với các dải tím đỏ, xám lục, vàng lục, xám đen chồng lên nhau theo nhịp đều. Đây là chỗ địa hình đan hà và đồi màu gặp nhau — tổ hợp khá hiếm gặp. Khu được công nhận là công viên địa chất thế giới và là điểm du lịch cấp 5A của Trung Quốc; bên trong có bảy đài quan sát chính và khoảng ba mươi điểm cảnh đã được đặt tên như Ngọa Hổ, Đại Phiến Bối, Thần Quy Vấn Thiên. Trong khu có cấm dùng thiết bị bay không người lái.

Điều nên nhớ khi tới đây là màu sắc thay đổi rất mạnh theo giờ và theo thời tiết. Giữa trưa nắng gắt, các dải màu bị ánh sáng làm bạc và trông bệt; buổi chiều muộn và sau mưa thì lên rõ nhất. Khu rộng nhưng chỉ vài điểm có thể đứng nhìn, nên thời gian thực tế ở lại thường ba tới năm giờ.

Đường sắt xuyên qua dãy núi

Đến thế kỷ hai mươi mốt, hành lang Hà Tây có thêm một lớp đáng chú ý: tuyến đường sắt cao tốc Lan Châu - Tân Cương phải xuyên qua Kỳ Liên Sơn. Công trình gồm đường hầm Kỳ Liên Sơn số 1, đường hầm số 2 và cầu Lưu Hoàng Câu nối hai đường hầm, tổng dài 16,336 ki-lô-mét. Cao độ mặt ray chỗ cao nhất là 3.607,4 mét. Đường hầm số 1 được đào thông ngày 1 tháng 5 năm 2014 sau hơn bốn năm thi công, và truyền thông nhà nước lúc đó gọi đây là đường hầm đường sắt cao tốc có cao độ cao nhất thế giới, đồng thời là công trình đường hầm có độ khó thi công lớn nhất ở vùng cao. Khi thi công, tổ hợp đá bùn vụn chảy được nêu là một trong những trở ngại kỹ thuật chính.

Con số 3.607,4 mét nằm ngay dưới ngưỡng mà cơ thể bắt đầu có phản ứng rõ: đây là mức cao hơn đỉnh Phan Xi Păng nếu lấy chênh lệch tuyệt đối, và cũng cao hơn hầu hết các đường đèo ở Việt Nam. Du khách đi tàu qua đoạn này thường chỉ thấy đường hầm và hai đầu cửa, nhưng đi ô tô theo quốc lộ qua đèo thì nhìn được cả hành lang lẫn dãy núi.

Đi khi nào và đi thế nào

Vùng này mang khí hậu lục địa khô, mùa đông dài và rét, biên độ nhiệt ngày đêm lớn. Khoảng tháng Năm tới tháng Mười là mùa thuận lợi nhất: cỏ xanh ở các đồng cỏ trên cao, ruộng bậc thang có màu, đường không bị tuyết. Tháng Bảy và tháng Tám mát ở vùng cao nhưng có mưa giông; nắng gắt vào buổi trưa vẫn đủ để bỏng da vì tia cực tím mạnh ở độ cao lớn.

Lộ trình thường được đi là bay tới Lan Châu hoặc Tây Ninh rồi theo đường sắt cao tốc dọc hành lang, dừng ở Trương Dịch, Tửu Tuyền, Gia Dục Quan. Từ Trương Dịch, khu Thất Thái Đan Hà cách bốn mươi ki-lô-mét còn quân mã trường Sơn Đan nằm ở đoạn giữa Sơn Đan và Dân Lạc. Muốn nhìn thấy tuyết quanh năm trên Kỳ Liên Sơn thì nên đi từ tháng Sáu trở đi, khi các đỉnh vẫn còn tuyết nhưng đường đã hết băng. Một lưu ý nhỏ nhưng hay gặp: nhiều bản đồ du lịch ghi "Nam Sơn" cho dãy núi phía nam Trương Dịch — đó chính là phần Kỳ Liên Sơn chạy dọc hành lang, không phải một dãy khác.

Nguồn: Wikipedia tiếng Anh — Qilian Mountains · Wikipedia tiếng Trung — 祁连山 · Wikipedia tiếng Trung — 河西走廊 · Ủy ban Phát triển và Cải cách Nhà nước Trung Quốc — Tiến độ thí điểm thể chế công viên quốc gia: Công viên Quốc gia Kỳ Liên Sơn · Chính quyền tỉnh Thanh Hải (Tân Hoa Xã) — Đường hầm Kỳ Liên Sơn trên đường sắt cao tốc Lan Tân thông toàn tuyến

Phía nam là cao nguyên Tạng cao hơn bốn nghìn mét, phía bắc là hoang mạc Gobi. Ở giữa chỉ có một dải đất rộng vài chục ki-lô-mét, và cả dải đất ấy sống nhờ tuyết tan của một dãy núi bảy lớp.
Thấy hữu ích?
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.
Theo dõi Page