Kim Hoa và nghề chạm gỗ Đông Dương: những ngôi nhà chạm kín cả mái và cột
Kim Hoa — thành phố ở giữa lòng Chiết Giang
Kim Hoa là một địa cấp thị nằm ở giữa tỉnh Chiết Giang. Phía đông giáp Thai Châu, phía nam giáp Lệ Thủy, phía tây giáp Cù Châu, phía bắc giáp Thiệu Hưng và Hàng Châu. Toàn địa cấp thị rộng 10.941,75 ki-lô-mét vuông, đứng thứ tư trong tỉnh, trong đó phần nội thành rộng 2.049 ki-lô-mét vuông; chiều bắc – nam dài 129 ki-lô-mét, chiều đông – tây dài 151 ki-lô-mét. Cuộc điều tra dân số năm 2020 ghi 7.050.683 người thường trú, và theo số liệu năm 2023 thì khoảng 716,5 vạn người.
Về hành chính, Kim Hoa quản hai quận là Vụ Thành và Kim Đông, bốn thành phố cấp huyện là Lan Khê, Nghĩa Ô, Đông Dương, Vĩnh Khang, và ba huyện là Vũ Nghĩa, Phố Giang, Bàn An. Cách đây hơn sáu trăm năm, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đã gọi vùng đất này là "trái tim của Chiết Giang". Địa hình Kim Hoa là đồi núi và bồn địa xen nhau, người ta tóm tắt bằng câu "ba phía núi vây, một dải sông chen giữa, các bồn địa nối nhau ôm ba con sông". Cái tên Kim Hoa, theo sách địa chí, đến từ vị trí của vùng đất: nơi hai ngôi sao Kim và Vụ tranh sáng.
Đông Dương — một huyện sống bằng tay nghề
Đông Dương là thành phố cấp huyện do Kim Hoa quản lý, nằm ở rìa vùng đồi đông Chiết Giang. Diện tích huyện được các nguồn ghi khác nhau: 1.746,81 và 1.744,05 ki-lô-mét vuông. Cuộc điều tra dân số năm 2020 ghi 1.087.950 người thường trú; hộ khẩu khoảng hơn 840 nghìn người. Đông Dương nổi tiếng với đúng hai nghề: chạm gỗ và xây dựng. Trong địa phận huyện có trấn Hoành Điếm, nơi được giới thiệu là phim trường lớn nhất thế giới và gắn với tên gọi "Hollywood phương Đông".
Từ đời Minh, Đông Dương đã mang tiếng là "làng trăm nghề". Huyện có lịch sử hơn một nghìn tám trăm năm, và nghề chạm gỗ ở đây được xếp vào hàng lâu đời bậc nhất Trung Quốc.
Nghề chạm gỗ Đông Dương là gì
Chạm gỗ Đông Dương là một trong bốn dòng chạm gỗ lớn nhất Trung Quốc, cùng với chạm gỗ long nhãn Phúc Châu, chạm gỗ hoàng dương Nhạc Thanh và chạm gỗ sơn vàng Triều Châu. Trong một cách gọi khác, nó hợp với chạm đá Thanh Điền và chạm gỗ hoàng dương Nhạc Thanh thành "ba nghề chạm của Chiết Giang". Năm 1983, Đông Dương được đặt tên là "quê hương chạm gỗ của Trung Quốc"; về sau huyện còn được gọi là "kinh đô chạm gỗ của thế giới". Nghề này được đưa vào danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia đợt đầu tiên vào ngày 20 tháng 5 năm 2006.
Đặc điểm cốt lõi nằm ở chỗ đây là nghề chạm nổi trên mặt phẳng. Khối gỗ không bị đục thành tượng tròn, mà giữ nguyên một mặt phẳng làm nền rồi từ mặt phẳng ấy hạ dần xuống thành nhiều lớp. Nhìn nghiêng thì các lớp chồng nhau như một sân khấu nhỏ; nhìn thẳng thì vẫn là một bức phẳng, không phá vỡ mặt tường hay mặt cửa. Cách bố cục ấy dùng phối cảnh tán điểm, nghĩa là nhiều điểm nhìn cùng lúc, gần và xa không theo một đường tụ duy nhất, nên người xem đứng ở đâu cũng đọc được một cảnh.
Một điểm rất dễ nhận: gỗ hầu như để nguyên màu và mạch tự nhiên, ít sơn phủ. Vì vậy nghề này còn có tên "chạm gỗ trắng", phân biệt với lối chạm sơn vàng thếp lá ở miền nam.
Hơn mười cách hạ đục trên một tấm gỗ
Tài liệu về nghề liệt kê hơn mười kỹ pháp: chạm nổi mỏng, nổi nông, nổi sâu, nổi cao, chạm chồng nhiều lớp, chạm thủng hai mặt, chạm khoét lỗ, chạm kín mặt, chạm khảm gỗ màu và chạm nổi trên gỗ tròn. Mỗi kỹ pháp ứng với một vị trí trên ngôi nhà. Cánh cửa và ô cửa sổ thường chạm nổi nông để ánh sáng còn lọt qua; đai đầu cột và miếng kê đầu dầm thì chạm sâu, có khi chạm thủng để nhìn xuyên thấy nền phía sau; tấm vách ngăn giữa hai gian thì chạm nhiều lớp chồng, lớp nọ khuất sau lớp kia.
Đời Minh giữ mộc, đời Thanh mới điểm sơn
Nghề chạm gỗ Đông Dương có từ đời Đường và tới đời Tống đã khá cao tay, nhưng phải tới đời Minh mới thành một lối riêng rõ rệt. Nét đặc trưng của giai đoạn Minh là giữ nguyên màu và mạch gỗ, chăm chút khâu đánh bóng, để cho đường đục tự nói và ít dùng thếp vàng hay sơn phủ. Sang đời Thanh, khoảng Gia Khánh và Đạo Quang, nghề bước vào giai đoạn hưng thịnh nhất và đổi chiều: phong cách chuyển từ mộc mạc sang rực rỡ, chú trọng phối cảnh và hiệu quả thị giác, bắt đầu dùng nhiều sơn và khảm.
Có một chi tiết cho thấy nghề chạm gỗ gắn chặt với nghề khắc sách. Từ đời Đường, thợ chạm gỗ Đông Dương đã tham gia khắc bản in. Sang Nam Tống, Vụ Châu trở thành một trong bốn trung tâm khắc in lớn nhất nước, và theo các tài liệu về nghề thì phần lớn người cầm dao khắc bản khi ấy là thợ chạm gỗ Đông Dương.
Lư Trạch — nơi nghề chạm biến thành ngôi nhà
Muốn nhìn nghề chạm gỗ Đông Dương, không nhất thiết phải vào bảo tàng. Ở rìa đông thành phố Đông Dương có Lư Trạch, quần thể nhà ở của dòng họ Lư, được xếp hạng di tích trọng điểm quốc gia đợt ba vào ngày 13 tháng 1 năm 1988. Họ Lư định cư ở đây từ đời Nam Tống; từ khi Lư Duệ đỗ tiến sĩ năm 1421 đời Vĩnh Lạc nhà Minh, dòng họ phát lên và lần lượt dựng nhà, tạo thành một quần thể nhà ở Minh – Thanh còn khá nguyên vẹn. Các tài liệu giới thiệu dùng câu so sánh "phía bắc có Cố Cung, phía nam có Lư Trạch"; giới nghiên cứu kiến trúc gọi đây là một di sản văn hoá có tầm quốc tế của lối nhà ở phương Đông.
Cấu trúc của Lư Trạch gồm ba trục chạy theo hướng nam – bắc, lấy nhà thờ tổ họ Lư làm trung tâm và ba nhóm nhà lớn là Phục Kinh Đường, Túc Ung Đường, Thụ Đức Đường xếp quanh. Trục Túc Ung Đường là trục chính, dài 320 mét, có chín lần sân nối tiếp từ cửa ngoài vào tới nhà sau.
Túc Ung Đường là nhà tập trung của cả họ. Các nguồn ghi khác nhau về bề ngang: có tài liệu ghi năm gian, có tài liệu ghi ba gian kèm hai gian nhỏ hai bên. Chỗ thống nhất là chiều sâu mười rường và nhà cao ba tầng, khoảng 10,6 mét. Trong nhà, chỗ nào chạm được đều chạm: đấu củng, dầm, xà, đòn dông, miếng con đỡ, tấm chèn giữa hai cột, cửa, cửa sổ và cả đồ gỗ kê trong nhà.
Người họ Lư ở đây đi theo đường khoa cử. Gia phả và tài liệu địa phương ghi dòng họ từng có tám tiến sĩ và hai mươi chín cử nhân. Đó là nguồn tiền và cũng là nguồn mắt thẩm mỹ để dựng nên Lư Trạch.
Con số của Lư Trạch
- Diện tích khu di tích khoảng 25.000 mét vuông; có tài liệu ghi phần kiến trúc còn lại khoảng 17.000 mét vuông, lại có nguồn ghi phần nhà cổ còn giữ khoảng 30.000 mét vuông.
- Trục Túc Ung Đường dài 320 mét, chín lần sân.
- Túc Ung Đường cao khoảng 10,6 mét, chiều sâu mười rường, ba tầng.
- Nghề chạm được xếp hơn mười kỹ pháp: nổi mỏng, nổi nông, nổi sâu, nổi cao, chồng nhiều lớp, thủng hai mặt, khoét lỗ, kín mặt, khảm gỗ màu và nổi trên gỗ tròn.
- Năm 2005, Lư Trạch nằm trong danh sách một trăm di chỉ văn hoá đang bị đe dọa do Quỹ Di sản Thế giới công bố.
Chạm vào chỗ nào, và chạm cái gì
Trong một ngôi nhà Đông Dương, thứ tự các chỗ đặt chạm gần như cố định. Trên cao nhất là dàn đấu củng và các đầu dầm; sát mái là miếng con đỡ uốn cong; hai đầu xà là tấm chèn giữa hai cột; thân nhà là vách ngăn, cửa gian giữa và các cánh cửa sổ; thấp nữa là đồ kê trong nhà. Nội dung khắc cũng theo đúng vị trí: chỗ cao và chỗ giữa khắc rồng, mây, hoa mẫu đơn; các ô nhỏ khắc cảnh tích cổ; cửa sổ khắc phượng, dơi, quả bầu.
Bên cạnh các mô-típ cát tường, người ta còn khắc những cảnh dạy luân lý: bộ hai mươi bốn câu chuyện hiếu, chuyện mẹ Nhạc Tử tạc chữ lên lưng con, chuyện Quan Công đêm đọc sách. Đây là dấu vết của một dòng họ làm quan, muốn biến ngôi nhà thành một cuốn sách giáo huấn.
Đi lại và những chỗ chưa chắc
- Kim Hoa là một đầu mối đường sắt của Chiết Giang, có ga tàu lớn; Đông Dương cách Nghĩa Ô khoảng 50 ki-lô-mét theo đường bộ.
- Ngoài Lư Trạch, Đông Dương còn có phim trường Hoành Điếm và khu mộ đất cổ cũng được xếp hạng di tích trọng điểm quốc gia.
- Có mấy chỗ các nguồn lệch nhau và bài này không chọn bừa: diện tích Đông Dương (1.746,81 và 1.744,05 ki-lô-mét vuông), bề ngang Túc Ung Đường (năm gian hay ba gian kèm hai gian nhỏ), diện tích Lư Trạch (17.000 hay 30.000 mét vuông).
- Mốc khởi dựng nghề cũng không thống nhất: có nguồn ghi nghề chạm gỗ Đông Dương manh nha từ đời Hán, có nguồn ghi từ đời Đường. Tài liệu chính thức dùng nhiều nhất là mốc đời Đường, nên bài này theo mốc ấy, nhưng cần nói rõ là chưa có một con số chung.
- Một chi tiết truyền miệng hay được kể: tương truyền đời Đường ở Đông Dương có người thợ được gọi là "Lỗ Ban sống". Đây là truyền thuyết nghề, không phải nhân vật có chứng cứ sử liệu, nên chỉ nêu để người đọc biết chứ không dùng làm mốc thời gian.
Nguồn: Wikipedia tiếng Trung — Điêu khắc gỗ Đông Dương · Wikipedia tiếng Trung — Đông Dương Lư Trạch · Nhân dân nhật báo — Lấy gỗ làm nền, chạm khắc thời gian · Bành Phái — Đông Dương: cổ vận truyền tân thanh · Tân Lãng Sưu Tàng — Điêu khắc gỗ Đông Dương: tiểu kỹ điêu ra vọng tộc thi lễ
Ở giữa lòng Chiết Giang có một vùng mà nghề chạm gỗ đi theo cả trang sách lẫn ngôi nhà: từ thế kỷ 12, Vụ Châu đã là một trong bốn trung tâm khắc in lớn nhất nước, và phần lớn người cầm dao khắc bản in là thợ chạm gỗ Đông Dương.
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.