Trang chủ › Điểm đến › Cù Châu và Nam Khổng Miếu: nhà thờ họ Khổng thứ hai của Trung Quốc
Điểm đến

Cù Châu và Nam Khổng Miếu: nhà thờ họ Khổng thứ hai của Trung Quốc

NHÀ THỜ HỌ KHỔNG Ở PHƯƠNG NAM
Cổng chính của Khổng thị Nam Tông gia miếu ở Cù Châu: mái ngói xám cong bốn góc, trên cửa treo tấm biển vàng khắc chữ Hán và bảy chiếc lồng đèn đỏ; ba cửa gỗ lớn sơn đỏ đóng hàng đinh đồng, hai bên là tường sơn đỏ, phía trước là sân lát gạch, phía sau là rừng cây xanh dưới nền trời trong.
Ảnh: Wikimedia Commons · CC BY-SA 4.0 · Siyuwj

Cù Châu — nơi bốn tỉnh gặp nhau ở đầu nguồn sông Tiền Đường

Cù Châu là một địa cấp thị ở phía tây tỉnh Chiết Giang. Phía đông giáp Hàng Châu, Kim Hoa và Lệ Thủy; phía nam giáp Nam Bình tỉnh Phúc Kiến; phía tây giáp Thượng Nhiêu tỉnh Giang Tây; phía bắc giáp Hoàng Sơn tỉnh An Huy. Vì năm mặt giáp năm vùng như vậy, người xưa gọi Cù Châu là "ngã tư của bốn tỉnh". Đây cũng là vùng đầu nguồn của con sông Tiền Đường.

Toàn địa cấp thị rộng 8.845 ki-lô-mét vuông, phần nội thành rộng 2.354 ki-lô-mét vuông; dân số hộ khẩu năm 2020 khoảng 2,5763 triệu người, mật độ 257,3 người trên một ki-lô-mét vuông. Cù Châu quản hai quận là Kha Thành và Cù Giang, một thành phố cấp huyện là Giang Sơn, và ba huyện là Thường Sơn, Khai Hoá, Long Du.

Đây không phải vùng đất ít tuổi. Dấu vết sinh sống của người ở đây gắn với văn hoá Thượng Sơn cách nay khoảng mười nghìn năm, và lịch sử xây thành khoảng hơn bốn nghìn năm; thời Xuân Thu, nơi này là đất nước Cô Miệt. Năm 1994, Cù Châu được công nhận là thành phố lịch sử văn hoá quốc gia. Câu định vị của thành phố ngày nay gói trong tám chữ: "thánh địa Nam Khổng, Cù Châu hữu lễ" — đất thánh của nhánh Khổng thị phương nam, và một thành phố lấy chữ lễ làm nếp sống.

Vì sao dòng họ Khổng lại ở đây

Năm 1127, quân Kim hạ Biện Kinh, bắt hai vua Huy Tông và Khâm Tông nhà Bắc Tống, sử gọi là biến cố Tĩnh Khang. Con của Huy Tông là Triệu Cấu lên ngôi ở Dương Châu, đổi niên hiệu Kiến Viêm. Trong đoàn người đi theo vua có Khổng Đoan Hữu, cháu đời thứ 48 của Khổng Tử, đang giữ tước Diễn Thánh Công.

Năm 1128, vua Tống Cao Tông làm lễ tế trời ở Dương Châu; Khổng Đoan Hữu được lệnh mang pho tượng gỗ hai vợ chồng Khổng Tử tới dự tế. Năm 1129, sau khi định đô ở Lâm An, triều đình nhận thấy Cù Châu không có chiến sự và đường sá thuận tiện, bèn ban cho dòng họ Khổng đất lập nhà ở đây. Năm 1136, vua hạ chiếu tạm lấy trường học của châu làm nhà thờ họ Khổng — đó là ngôi miếu đầu tiên ở Cù Châu.

Ở phía bắc, vua Kim lập em của Khổng Đoan Hữu là Khổng Đoan Tháo làm Diễn Thánh Công. Từ đó dòng họ Khổng tách thành hai nhánh: Bắc Tông ở Khúc Phụ và Nam Tông ở Cù Châu.

Năm 1253, Khổng Thù đời thứ 53 cùng tri châu Cù Châu là Tôn Tử Tú dâng sớ xin dựng miếu mới. Vua Tống Lý Tông cấp 360.000 quan tiền, cho dựng miếu ở bờ sen hồ Lăng phía đông bắc thành. Miếu hoàn thành năm 1254, gồm điện Huyền Thánh, điện phu nhân Vận Quốc, điện Tề Quốc Công, điện Lỗ Quốc Thái Phu Nhân, hai hành lang thờ hai vị hầu Nghi Thuỷ và Tứ Thuỷ, cùng nhà Tư Lỗ Đường và đình Vịnh Xuân.

Khổng Thù nhường tước vị

Năm 1276, miếu ở hồ Lăng bị cháy vì chiến sự, phải dời xuống phía nam thành. Năm 1279, trận Nhai Sơn kết thúc nhà Nam Tống. Năm 1282, vua Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt ra lệnh cho Khổng Thù đưa cả họ về Khúc Phụ để thờ tự. Khổng Thù từ chối, lấy cớ mồ mả tổ tiên năm đời đang ở Cù Châu và miếu đã dựng ở đây, không nỡ dắt cả nhà đi bắc, rồi nhường tước Diễn Thánh Công lại cho người em họ ở Khúc Phụ là Khổng Trị.

Sử chép vua Nguyên khen ông một câu: "Thà trái vinh hoa chứ không trái đạo, đúng là hậu duệ của bậc thánh." Ông được đổi sang chức Tế tửu Quốc Tử Giám. Nhưng cái giá của việc nhường tước rất lớn: từ đó nhánh Nam Tông vĩnh viễn mất quyền thừa kế tước Diễn Thánh Công và dần trở thành dân thường. Đây là biến cố được gọi là "Khổng Thù nhường tước".

Ngôi miếu hôm nay

Năm 1520, niên hiệu Chính Đức thứ 15 đời Minh, miếu được dời về địa điểm hiện nay ở đường Tân Kiều, quận Kha Thành, và hoàn thành năm sau. Từ năm 1821 đến 1823 thời Đạo Quang, miếu được đại tu và có diện mạo như ngày nay. Từ năm 1998 đến 2000, chính quyền Cù Châu đầu tư 16 triệu nhân dân tệ để phục dựng lại trục phía tây và khu Khổng phủ. Khu miếu hiện còn rộng khoảng 13.900 mét vuông.

Ngày 12 tháng 12 năm 1981, miếu được xếp hạng di tích cấp tỉnh; ngày 20 tháng 11 năm 1996, được xếp hạng di tích trọng điểm quốc gia đợt bốn, số 4-102, loại hình kiến trúc cổ, niên đại từ Nam Tống đến Thanh.

Đây là một trong hai nhà thờ họ Khổng còn lại của Trung Quốc, cái kia ở Khúc Phụ. Nhưng có một điểm khiến nơi này khác Khúc Phụ: miếu ở Cù Châu vừa là miếu quan vừa là nhà thờ họ, tức hai chức năng trong một. Sau khi mất tước, nhánh Nam Tông không còn uy thế như ở Khúc Phụ, nhưng miếu vẫn giữ đủ hai việc: thờ thánh và dạy người.

Ba trục và những cái tên

Miếu gồm ba phần: miếu Khổng Tử, phủ họ Khổng và vườn sau. Quần thể quay về hướng nam, bố cục thành ba trục:

  • Trục giữa: cổng miếu, cổng Đại Thành, con đường lát đá, sân tế và hai hành lang đông tây, cuối cùng là điện Đại Thành. Hành lang đông thờ Khổng Nhân Ngọc và Khổng Truyện; hành lang tây thờ Khổng Đoan Hữu, vị tổ của nhánh nam.
  • Trục phía tây: miếu Ngũ Chi, miếu Tập Phong, miếu Lục Đại Công Tước và gác Tư Lỗ. Phía ngoài trục này là nha thự của chức Bác sĩ thế tập, sau gọi là phủ Phụng Tự, thông dụng là Khổng phủ.
  • Trục phía đông: nhà học họ Khổng, cổng Sùng Thánh, nhà thờ Sùng Thánh và lầu Thánh Trạch; phía tây cổng Sùng Thánh là nhà Báo Công, trước nhà Báo Công là nhà Ân Quan, hai bên là hồ nước. Sân trong trồng bách cổ.

Điện Đại Thành là nhà chính, mái kiểu trùng thiềm hiết sơn, tức mái hai lớp bốn mặt dốc, mặt ngang năm gian dài 16,6 mét, chiều sâu năm gian sâu 16,5 mét.

Gác Tư Lỗ nằm phía tây điện Đại Thành, là một nhà hai tầng. Tên "tư lỗ" nghĩa là nhớ đất Lỗ. Trong gác đặt pho tượng gỗ hai vợ chồng Khổng Tử — chính là pho tượng mà Khổng Đoan Hữu mang theo khi nam hạ — và dựng tấm bia khắc chân dung Tiên Thánh.

Ba tấm hoành phi

Ba tấm biển lớn của miếu đều do người nổi tiếng viết. Biển ngoài cổng, "Cù Châu Khổng thị gia miếu", do thư pháp gia Sa Mạnh Hải đề. Trước điện Đại Thành, biển "Sinh Dân Vị Hữu" do vua Thanh Thế Tông, tức Ung Chính, ngự bút. Trong điện, biển "Vạn Thế Sư Biểu" do vua Thanh Thánh Tổ, tức Khang Hy, ngự bút.

Lễ Khổng và những việc đi kèm

Năm 2004, Cù Châu tổ chức lần đầu "Lễ hội văn hoá Khổng Tử quốc tế Cù Châu", nhân kỷ niệm 2.555 năm ngày sinh của Khổng Tử. Đại lễ tế Khổng của Cù Châu được xếp hạng di sản văn hoá phi vật thể cấp tỉnh tháng 5 năm 2005, và tới tháng 5 năm 2011 thì vào danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia đợt ba.

Vì là thành phố lịch sử văn hoá, Cù Châu còn giữ được một thành trì cấp châu thời xưa, được xem là thành cổ còn tương đối nguyên vẹn nhất vùng Giang Nam, cùng nhiều di tích trọng điểm quốc gia khác. Cách thành phố không xa là núi Giang Lang, di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Chiết Giang; nguồn nước đầu nguồn sông Tiền Đường ở đây được bảo vệ trong Vườn quốc gia Tiền Giang Nguyên, vườn quốc gia duy nhất của vùng Hoa Đông. Hang đá Long Du cũng là một điểm nổi tiếng của vùng.

Những chỗ chưa chắc

  • Miếu đã dời và tu sửa nhiều lần, các nguồn kể không hoàn toàn giống nhau. Dãy mốc chắc chắn là: năm 1136 lấy trường học của châu làm miếu; năm 1253–1254 dựng miếu ở hồ Lăng; năm 1276 cháy và dời xuống nam thành; năm 1520–1521 dời về địa điểm hiện nay. Giữa các mốc ấy còn những lần sửa nhỏ mà tài liệu không ghi đủ.
  • Câu chuyện Khổng Thù nhường tước là chính sử, nhưng lời tâu và lời khen của vua Nguyên được các sách kể lại không giống nhau từng chữ. Ý chính thì thống nhất: ông từ chối về Khúc Phụ và nhường tước cho em họ.
  • Có tài liệu nói miếu Cù Châu được dựng "so sánh với miếu Khúc Phụ", nhưng mức độ sao chép về quy mô thì không có căn cứ rõ; miếu ở Cù Châu nhỏ hơn Khúc Phụ nhiều.
  • Việc coi pho tượng gỗ trong gác Tư Lỗ là bản gốc do Khổng Đoan Hữu mang từ Khúc Phụ về là điều các nguồn chính thức vẫn khẳng định, nhưng bài này không tìm được tài liệu kiểm định độc lập cho niên đại của pho tượng.
  • Con số diện tích khu miếu khoảng 13.900 mét vuông là con số hiện hành; các tài liệu cũ hơn ghi khác, và một phần diện tích đã được phục dựng trong hai năm 1998–2000 nên không còn là kiến trúc nguyên bản.

Nguồn: Wikipedia tiếng Trung — Khổng thị Nam Tông gia miếu · Wikipedia tiếng Trung — Thành phố Cù Châu · Tân Hoa Xã — Nam Khổng gia miếu chín trăm năm · Baidu Bách Khoa — Khổng thị Nam Tông gia miếu · Đảng Cộng sản Tân văn võng — Hậu duệ Khổng Tử ở Chiết Giang

Khúc Phụ có miếu Khổng Tử. Nhưng Trung Quốc có hai nhà thờ họ Khổng, và cái thứ hai nằm ở Cù Châu, do một người cháu đời thứ 48 mang pho tượng gỗ của thánh nhân theo vua xuống nam rồi ở lại.
Thấy hữu ích?
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.
Theo dõi Page