Cầu Quảng Tế và Triều Châu: cây cầu mở - đóng đầu tiên của Trung Quốc
Cây cầu ghép từ hai đoạn đá và mười tám con thuyền
Ở cửa Đông thành phố Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, có một cây cầu bắc ngang sông Hàn. Nhìn từ xa nó cũng giống bao cây cầu cổ khác: trụ đá, nhịp dầm, lầu gác mái cong. Nhưng tới gần mới thấy khúc giữa cầu không phải đá, mà là mười tám con thuyền gỗ ghép sát nhau, trên lót ván cho người qua lại. Đó là cầu Quảng Tế, tục gọi cầu Tương Tử, và cũng là cây cầu kiểu mở – đóng đầu tiên của Trung Quốc còn tồn tại đến ngày nay.
Quảng Tế nằm trong nhóm bốn cây cầu cổ nổi tiếng nhất của Trung Quốc, cùng cầu Triệu Châu ở Hà Bắc, cầu Lạc Dương ở Phúc Kiến và cầu Lư Câu ở Bắc Kinh. Điều khiến nó khác biệt nằm ở kết cấu: cầu gồm hai đoạn cầu dầm đá kéo từ hai bờ vào và một đoạn cầu phao ở giữa. Kỹ sư cầu nổi tiếng Mao Dĩ Thăng từng gọi đây là cây cầu mở – đóng sớm nhất thế giới.
Ba trăm năm mươi chín năm xây một cây cầu
Cầu Quảng Tế không do một đời người làm xong. Năm 1171, tức niên hiệu Càn Đạo thứ bảy đời Nam Tống, thái thú Triều Châu là Tằng Uông cho đặt một trụ đá lớn giữa sông để giữ cầu phao, rồi dùng xích sắt nối tám mươi sáu con thuyền nhỏ, lấy tên Khang Tế Kiều. Sau đó, hết đời quan này tới đời quan khác của Triều Châu tiếp nhau đắp trụ đá từ hai bờ tiến dần ra giữa, thay dần cầu phao bằng cầu dầm. Đến năm 1228 đã có hai mươi ba trụ đá.
Năm 1435, đời Minh Tuyên Đức thứ mười, tri phủ Vương Nguyên đứng ra đại trùng tu: gia cố toàn bộ trụ, dựng trên cầu mười hai lầu gác và một trăm hai mươi sáu gian nhà, rồi đặt tên cầu là Quảng Tế, nghĩa là giúp rộng khắp trăm dân đất Việt. Năm 1513, tri phủ Đàm Luân cho thêm một trụ. Đến năm 1530, đời Gia Tĩnh thứ chín, tri phủ Khâu Kỳ Nhân bớt sáu thuyền, còn lại mười tám, từ đó hình thành thế cầu quen thuộc: mười tám thuyền con thoi, hai mươi bốn cồn. Tính từ năm khởi công 1171 tới lúc định hình 1530 là ba trăm năm mươi chín năm, một con số mà chính các tài liệu Trung Quốc cũng nhấn mạnh như một kỳ tích của việc xây dựng nối tiếp nhiều đời.
Ngày nối, đêm tách
Chữ cồn trong câu dân gian chỉ các trụ đá: trụ rộng và nổi giữa nước nên nhìn như một dải đất bốn bề là sông. Điểm lạ nhất của cầu là đoạn giữa. Ban ngày, mười tám con thuyền được ghép lại, lót ván để người đi bộ qua sông. Đến khoảng năm giờ rưỡi chiều, hoặc khi có lũ, thợ gỡ ván trên mặt thuyền, mở xích sắt ở hai đầu, rồi kéo mười tám con thuyền tách thành hai nhóm, neo gọn dưới hai đoạn cầu dầm. Luồng chính của sông Hàn được nhường lại cho tàu thuyền đi qua, và nước lũ thoát nhanh hơn. Vì thế người ta ví đây là trò qua sông rồi dỡ cầu.
Trên mỗi đoạn dầm đá là một lầu gác với mái ngói cong, đèn lồng đỏ treo dưới hiên. Các lầu gác hiện nay phần lớn được phục dựng, nhưng khung trụ đá và nhịp dầm thì đã có tuổi hàng trăm năm. Đêm xuống, dọc hai bờ sông Hàn có hệ thống chiếu sáng, biến cây cầu thành điểm ngắm của thành phố.
Con số, và chỗ các nguồn còn lệch nhau
Con số được nhắc nhiều nhất: cầu dài khoảng 518 mét, mặt rộng 5 mét. Đoạn dầm phía đông dài 283,35 mét với mười hai trụ đá và một mố cầu, mười hai nhịp; đoạn dầm phía tây dài 137,3 mét với tám trụ, bảy nhịp; đoạn cầu phao ở giữa dài 97,3 mét, đúng mười tám thuyền. Một số tài liệu khảo sát ghi tổng chiều dài 517,95 mét, Wikipedia tiếng Trung ghi khoảng 520 mét và cho biết hiện còn hai mươi mốt trụ cổ, lệch với con số hai mươi bốn trụ của bản thiết kế xưa. Chỗ này xin nói rõ là chưa có một con số tuyệt đối thống nhất giữa các nguồn.
Cầu được xếp hạng di tích trọng điểm toàn quốc từ năm 1988 và là điểm thắng cảnh cấp AAAA. Giờ mở cửa thay đổi theo mùa; mức phổ biến là mở buổi sáng tới khoảng mười bảy giờ ba mươi phút, lễ tách cầu thường diễn ra quanh mười bảy giờ ba mươi. Vé vào cầu nhiều nơi ghi hai mươi nhân dân tệ, có chế độ giảm cho học sinh và người cao tuổi; các mức giá này có thể điều chỉnh nên nên kiểm tra trước bằng kênh chính thức của khu thắng cảnh.
Triều Châu, thành phố hơn một nghìn sáu trăm năm bên sông
Triều Châu nằm ở phía đông tỉnh Quảng Đông, trên vùng đồng bằng sông Hàn đổ ra biển. Tên Triều Châu có từ năm 591 đời Tùy, nghĩa là vùng đất giữa dòng triều. Vùng đất này đã là trung tâm hành chính từ thời Đông Tấn: năm 413 lập quận Nghĩa An, trị sở đặt tại đây. Triều Châu cổ thành là một trong hai thành phố đầu tiên của Quảng Đông được công nhận là thành phố lịch sử và văn hóa cấp quốc gia.
Phố bài phường và những tấm bia đá
Trục chính của cổ thành là phố bài phường, tổng dài 1.948 mét, trong đó phố Thái Bình dài 1.742 mét và phố Đông Môn dài 206 mét. Dọc phố dựng 23 tấm bài phường bằng đá hoa cương Phúc Kiến thời Minh và Thanh, phần lớn kết cấu ba gian, ba tầng, bốn cột đá liền khối. Mỗi tấm ghi một người hoặc một dòng họ đỗ đạt, như Trạng Nguyên phường của Lâm Đại Khâm, người đỗ trạng nguyên khoa Nhâm Thìn đời Minh Gia Tĩnh, hay Đại Tổng Chế phường của Ông Vạn Đạt. Theo sử liệu, phố Thái Bình từng có tới ba mươi chín tấm bài phường; chiến tranh và thời gian làm mất phần lớn, tới năm 2006 tới 2009 thành phố phục dựng lại theo nguyên bản. Đến nay trên phố có 23 tấm, một số nguồn ghi 22. Xen giữa các bài phường đá là những dãy nhà phố có hành lang che, kiểu kỵ lâu du nhập từ cuối Minh đầu Thanh, tạo nên cảnh quan vừa cổ vừa đượm nét thương cảng.
Chùa Khai Nguyên và đền thờ Hàn Dũ
Trong cổ thành có chùa Khai Nguyên, khởi dựng năm 738 đời Đường Huyền Tông, ban đầu tên Liên Hoa Tự, về sau đổi thành Khai Nguyên Trấn Quốc Thiền Tự và giữ tên đó tới nay; đây là một trong những ngôi chùa lớn của Phật giáo. Ở bờ đông sông Hàn, trên đồi Bút Giá, là đền thờ Hàn Dũ, vị quan và nhà văn đời Đường bị biếm tới Triều Châu năm 819, người được dân gian truyền tụng chuyện đuổi cá sấu và mở mang việc học. Đền Hàn Văn Công ở Triều Châu được xem là nơi thờ Hàn Dũ có lịch sử lâu dài nhất Trung Quốc; hiện vào cửa miễn phí nhưng cần đặt trước và thường đóng cửa vào thứ Hai.
Triều Châu còn nổi tiếng với nghệ thuật trà đạo công phu, hát Triều kịch và nền ẩm thực riêng của người Triều Châu. Cổng thành phía đông, tức Quảng Tế Lâu, đứng ngay đầu cầu, là chỗ ngắm trọn cây cầu cổ và dòng sông.
Mấy điều nên chuẩn bị
Thời tiết Triều Châu mưa nhiều từ tháng Năm tới tháng Chín; khoảng từ tháng Mười tới tháng Ba trời khô và mát hơn. Nếu muốn xem lễ tách cầu, nên tới trước khoảng mười bảy giờ; muốn xem đêm đèn thì ở lại sau mười chín giờ. Đây là thành phố dễ đi bộ, nhưng phố cổ khá đông vào dịp lễ; nhiều quán ăn lâu năm chỉ mở buổi sáng và buổi trưa. Cầu Quảng Tế và khu phố cổ là hai khoản vé riêng.
Nguồn: Wikipedia tiếng Trung — 广济桥 (潮州) · Bách khoa Baidu — 广济桥 · Tân Hoa Xã — 今天,这座桥刷屏了!你可知道它有多厉害 · Cổng thông tin Chính phủ tỉnh Quảng Đông — 潮州广济桥:千年古桥见证历史,饱经岁月风采更盛 · Khoa học Thời báo — 潮州广济桥:白天行人晚上走船
Từ cửa Đông Triều Châu nhìn ra sông Hàn, cây cầu cổ nối hai bờ bằng hai đoạn dầm đá và một đoạn ghép từ mười tám con thuyền. Ban ngày người đi qua, chiều xuống thuyền tách ra nhường luồng cho tàu bè.
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.