Trang chủ › Điểm đến › Hồn Nguyên và chùa treo Huyền Không: ngôi chùa 1.500 năm bám vách Hằng Sơn
Điểm đến

Hồn Nguyên và chùa treo Huyền Không: ngôi chùa 1.500 năm bám vách Hằng Sơn

CHÙA TREO TRÊN VÁCH ĐÁ BẮC NHẠC HẰNG SƠN
Các tầng lầu gỗ của chùa treo Huyền Không bám vào vách đá dựng đứng: mái ngói vàng xếp lớp, hệ cột và lan can gỗ đỏ, những hành lang hẹp nối các tầng với nhau, phía dưới là các cột gỗ dài chống xuống sườn đá; du khách đứng trên hành lang nhìn xuống thung lũng.
Ảnh minh hoạ — chưa đối chiếu được nguồn ảnh

Hồn Nguyên — huyện nhỏ nằm dưới chân Bắc Nhạc

Hồn Nguyên là một huyện ở phía đông bắc tỉnh Sơn Tây, thuộc địa cấp thị Đại Đồng, rộng 1.965 ki-lô-mét vuông. Dân số thường trú theo tổng điều tra năm 2020 là 237.749 người, huyện lỵ đóng ở trấn Vĩnh An. Phía đông huyện giáp Quảng Linh và Linh Khâu, phía tây giáp Ứng huyện, phía nam giáp Phồn Trĩ, phía bắc giáp Vân Châu và Dương Cao. Hai con sông chính chảy qua địa bàn là Hồn Hà và Đường Hà.

Nhưng thứ khiến Hồn Nguyên được biết đến không phải sông, mà là ngọn núi đứng ngay trong địa giới: Hằng Sơn, đỉnh chính cao 2.016 mét, một trong Ngũ Nhạc của Trung Quốc và là Bắc Nhạc. Nhắc tới Hồn Nguyên là nhắc tới một huyện có mật độ di sản dày bất thường so với diện tích. Chỉ riêng huyện này đã có bảy di tích được xếp hạng bảo vật quốc gia trọng điểm: chùa treo Huyền Không, chính điện chùa Đại Vân ở Kinh Trang, chùa Vĩnh An, mộ Lật Dục Mỹ, tháp Viên Giác, đền Luật Lữ và Văn miếu Hồn Nguyên. Đặc sản được cấp chỉ dẫn địa lý của huyện là hoàng kỳ Hằng Sơn.

Ngôi chùa treo nằm ở đâu và vì sao có tên ấy

Chùa Huyền Không nằm cách huyện lỵ Hồn Nguyên khoảng bốn ki-lô-mét về phía đông nam, trên sườn phía tây đỉnh Thúy Bình, trong một hẻm núi đá vôi của Hằng Sơn tên là hẻm Từ Diêu, còn gọi là hẻm Kim Long. Đây được xếp vào hàng đệ nhất thắng cảnh trong mười tám cảnh đẹp của Hằng Sơn.

Tên chùa ban đầu là Huyền Không Các. Về sau chữ huyền nghĩa là treo được đổi sang chữ huyền khác đồng âm, vì ngôi chùa thực sự treo lơ lửng trên vách núi. Cách chơi chữ ấy nói đúng bản chất công trình: chùa không đứng trên mặt đất, cũng không nằm gọn trong một hốc đá, mà bám vào phần lõm ở lưng chừng vách.

Ba dị bản về ngày dựng chùa

Cách lý giải phổ biến nhất: chùa khởi công năm 491, niên hiệu Thái Hòa thứ mười lăm đời Bắc Ngụy, do vua Hiếu Văn Đế hạ lệnh dựng, nhằm dời đạo tràng Thiên Sư của đạo sĩ Khấu Khiêm Chi tới đây.

Một thuyết khác kéo mốc thời gian lùi về năm 398: sau khi đánh chiếm Bắc Yên, vua Đạo Vũ Đế trên đường từ Trung Sơn trở về Bình Thành đã huy động một vạn lính đục mở dãy Hằng Lĩnh, đục thông một đoạn dài hơn năm trăm dặm, và chỗ này được coi là nền móng ban đầu. Lại có truyền thuyết nói chùa do đời Nam Tống dựng, nhưng không có chứng cứ xác thực nào chống lưng.

Điều có thể nói chắc: trước đời Kim, ngôi chùa này đã là một ngôi chùa tam giáo hợp nhất, thờ chung Khổng Tử, Lão Tử và Thích Ca Mâu Ni ở vị trí cao nhất. Chùa từng được trùng tu dưới triều Kim, triều Minh và triều Thanh vào niên hiệu Đồng Trị. Kiến trúc gỗ còn lại đến nay phần lớn là dựng lại thời Minh và Thanh. Nói chùa một nghìn năm trăm năm là nói tuổi của ngôi chùa như một địa chỉ tín ngưỡng, chứ không phải tuổi của từng cây gỗ đang nằm trên vách núi.

Hai mươi bảy cây dầm và những cây cột không gánh lực

Cách chống đỡ của chùa Huyền Không thường bị hiểu sai. Nhìn từ xa, người ta thấy một loạt cột gỗ thẳng đứng chống xuống dưới chân lầu và tưởng rằng cả ngôi chùa đứng trên những cây cột ấy. Thực tế, kết cấu chịu lực chính là hai mươi bảy cây dầm nằm ngang, đường kính khoảng năm mươi xăng-ti-mét, được ngâm dầu trẩu để chống mục và chống mối. Một đầu dầm neo vào vách đá bằng mộng và ngõng, phần thân đỡ tòa nhà chính, một đoạn chìa ra ngoài khoảng một mét để gánh hành lang. Những cây cột dựng đứng chỉ là hệ phụ trợ: có cây chịu lực, có cây hoàn toàn không gánh gì, cho nên mới có câu ví von rằng chùa treo bằng vài sợi lông đuôi ngựa.

Toàn chùa có bốn mươi gian, tổng diện tích sàn chỉ khoảng 152,5 mét vuông, kết cấu khung gỗ, các tòa nối nhau bằng hành lang và đường hẹp đục vào đá. Chính điện chia hai tầng: tầng dưới trước kia là phòng ăn ở và điện tụng niệm của sư, tầng trên chia làm ba điện thờ Phật, thờ Thái Ất và thờ Quan Đế. Hai bên có các điện phụ: phía nam là Già Lam điện và Tống Tử Quan Âm điện, phía bắc là Địa Tạng Vương Bồ Tát điện và Thiên Thủ Quan Âm điện.

Đặc sắc nhất là hai tòa lầu bay, mỗi tòa ba tầng, mái kiểu chín nóc, cao hơn mười mét, một mặt áp sát vách đá, ba mặt còn lại trống không. Hai lầu nối với nhau bằng hai đường lát: đường phía trên lát ván nối tầng ba của hai lầu và chỉ đủ một người đi qua, đường phía dưới đục thẳng vào vách đá để nối tầng một. Trong lầu nam, từ dưới lên lần lượt là Thuần Dương cung, Tam Quan điện và Lôi Âm điện. Lầu bắc lần lượt là Tứ Phật điện, Tam Thánh điện và Tam Giáo điện, trong đó Tam Giáo điện thờ cùng lúc Thích Ca Mâu Ni, Khổng Tử và Lão Tử.

Về độ cao, các tài liệu không khớp nhau. Phần lớn sách hướng dẫn và báo chí Trung Quốc nói chùa cách mặt đất khoảng năm mươi mét. Bài viết về chùa trên Wikipedia tiếng Trung lại ghi điểm cao nhất của chùa cách đáy thung lũng hơn chín mươi mét. Người viết bài này không có cách đo độc lập để phân xử, xin ghi lại cả hai con số để người đọc biết chỗ còn chênh.

Phía trên nóc chùa, người xưa đục một rãnh thoát chạy dọc vách đá, gọi là thiên câu, để đá lở từ tầng núi cao hơn không rơi trúng mái.

Chữ tráng quan của Lý Bạch và lời khen của Từ Hà Khách

Tương truyền năm 735, niên hiệu Khai Nguyên thứ hai mươi ba đời Đường, Lý Bạch trên đường qua đây đã đề lên vách đá hai chữ tráng quan, nghĩa là cảnh tượng hùng tráng. Chuyện kể thêm rằng chữ tráng do ông viết có thêm một chấm, vì nhà thơ thấy ngòi bút của mình vẫn chưa nói hết được cái choáng ngợp trước mắt. Đây là truyền thuyết, không phải ghi chép sử. Hai chữ hiện nhìn thấy trên vách đá dưới chân chùa được khắc lại năm 1991, căn cứ theo bản rập đời Thanh còn lưu ở chùa Hoa Nghiêm, Đại Đồng.

Minh xác hơn là ghi chép của Từ Hà Khách. Trong Du Hằng Sơn nhật ký, nhà du hành đời Minh viết rằng vào trong thì lầu gác cao thấp, đường lan can uốn khúc; vách đã dựng đứng, ấy là cảnh lớn của thiên hạ, mà ngôi chùa điểm vào lại càng trọn vẹn cái đẹp; dựa vào đá mà dựng nhà, không để đá làm vướng, chỉ có nơi này. Bốn chữ thiên hạ cự quan mà người đời sau nhắc lại mỗi khi nói về Huyền Không cũng từ câu ấy mà ra.

Dân gian quanh vùng thì gói cảm giác ấy vào một câu: chùa Huyền Không, cao nửa trời, treo giữa không bằng ba sợi lông đuôi ngựa.

Giữ ngôi chùa treo: trùng tu, đá lở và hạn tám mươi khách

Năm 1957, Huyền Không được xếp hạng di tích cấp tỉnh Sơn Tây. Năm 1978, chùa được đại trùng tu; trong lần sửa ấy thợ thay mấy cây dầm chịu lực chính và nhờ đó phát hiện lại kết cấu mộng ngõng đã giữ chùa suốt nhiều thế kỷ. Năm 1982, chùa được nâng lên hạng di tích quốc gia trọng điểm. Năm 1990, Cục Quản lý Di sản Văn hoá Nhà nước cấp tiền gia cố quy mô lớn.

Năm 2001, ban quản lý Hằng Sơn ra quy định riêng để bảo vệ chùa, trong đó có điều kiện số khách cùng lúc không quá tám mươi người. Tháng 6 năm 2010, tuần san Thời đại của Mỹ xếp Huyền Không vào danh sách mười công trình trông mong manh nhất hành tinh, và từ đó cái danh ấy đi theo ngôi chùa trong mọi bài giới thiệu.

Năm 2013, báo chí phát hiện có việc khai thác than trái phép trên chính quả núi của chùa, điểm đào cách chùa chưa đầy một ki-lô-mét; chính quyền huyện Hồn Nguyên sau đó đã đình chỉ điểm khai thác này. Ngày 1 tháng 10 năm 2015, chùa phải đóng cửa tạm thời vì đá lở trúng con thú trang trí trên nóc lầu trống. Ngày 7 tháng 11 cùng năm, Cục Quản lý Di sản Văn hoá Nhà nước cấp ba triệu nhân dân tệ để làm lại rãnh thoát trên nóc chùa và dọn đá đã lấp vào đó. Tháng 4 năm 2016, việc sửa chữa hoàn tất, chùa mở lại từ ngày 30 tháng 4 năm 2016. Hiện chùa là điểm tham quan hạng 4A.

Đi Hồn Nguyên thì nên ghép những đâu

Hồn Nguyên không chỉ có chùa treo. Trong cùng một ngày, người đi có thể ghép thêm vài điểm nằm sát nhau:

  • Chùa Vĩnh An: còn giữ được một hệ thống tượng và tranh tường lớn, là một trong những di tích quốc gia trọng điểm của huyện.
  • Tháp Viên Giác: tháp gạch nhiều tầng còn khá nguyên vẹn, cũng thuộc danh sách di tích quốc gia trọng điểm.
  • Văn miếu Hồn Nguyên và đền Luật Lữ: hai di tích cổ nằm ngay trong hoặc sát thị trấn huyện lỵ.
  • Mộ Lật Dục Mỹ: khu lăng mộ của một danh thần đời Thanh quê ở Hồn Nguyên, người nổi tiếng về nghề trị thuỷ.
  • Hằng Sơn: đi tiếp lên đỉnh Thiên Phong cao 2.016 mét nếu còn sức và còn thời gian.

Với chùa Huyền Không, nên chủ động hỏi giờ mở cửa trước khi lên đường. Ngôi chùa vẫn thường xuyên phải đóng để kiểm tra vách núi, và giới hạn tám mươi khách mỗi lượt khiến chuyện xếp hàng vào chùa vào dịp cao điểm là bình thường.

Nguồn: Wikipedia tiếng Trung — Chùa treo Huyền Không · Baidu Baike — Chùa treo Huyền Không · Trung tâm quản lý khu danh thắng Hằng Sơn — Chùa treo Huyền Không · Nhật báo Bắc Kinh — Viên ngọc cổ kiến treo trên vách đá · Cổng du lịch huyện Hồn Nguyên — Du Hằng Sơn: chùa treo Huyền Không và chùa Vĩnh An

Chùa Huyền Không không đứng trên đất, cũng không nằm gọn trong một hốc đá: nó được giữ bởi hai mươi bảy cây dầm gỗ cắm sâu vào lòng vách, đầu còn lại chìa ra ngoài không trung. Người quanh vùng vẫn nói ngôi chùa ấy treo bằng ba sợi lông đuôi ngựa.
Thấy hữu ích?
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.
Theo dõi Page