Di Hưng và đồ gốm tím: chiếc ấm tử sa đất nặn không cần tráng men
Di Hưng — nơi một thứ đất được nặn thành ấm trà
Di Hưng là một thành phố cấp huyện thuộc địa cấp thị Vô Tích, tỉnh Giang Tô, nằm ở bờ tây hồ Thái Hồ với diện tích chừng 2.000 ki-lô-mét vuông và gần 1,29 triệu dân thường trú theo tổng điều tra năm 2020. Tên cũ của vùng này là Dương Tiện. Người Trung Quốc vẫn gọi Di Hưng bằng một biệt danh ngắn là đô gốm.
Trung tâm của nghề gốm không nằm ở khu phố lớn mà ở thị trấn Đinh Thự, nơi có hàng nghìn lò và xưởng lớn nhỏ. Nhưng thứ làm nên tên tuổi Di Hưng không phải đồ sành nói chung, mà là một loại đất sét đặc biệt dùng để nặn ấm trà: tử sa.
Tử sa — loại đất không cần tráng men
Tử sa, nghĩa đen là cát tím, là tên gọi chung của nhóm đất sét chịu lửa khai thác quanh thị trấn Đinh Thự, mà mỏ nổi tiếng nhất nằm ở khu vực Hoàng Long Sơn. Điều khiến nó khác mọi loại đất nặn đồ gốm khác nằm ở cấu trúc: hạt đất khi nung kết dính thành những cụm nhỏ thay vì đặc quánh, để lại giữa chúng vô số lỗ rỗng li ti, gọi là cấu trúc hạt kết và lỗ rỗng kép. Vì vậy ấm tử sa nung xong vẫn có độ thông khí rất nhẹ mà không cần tráng men bên ngoài lẫn bên trong.
Chính cấu trúc ấy dẫn tới hai hệ quả mà người chơi ấm nhắc nhau suốt nhiều thế kỷ. Thứ nhất, thành ấm hút một phần dầu và hương từ nước trà, lâu dần mặt ấm lên nước bóng mờ gọi là bao tương, việc chăm ấm như thế có tên riêng là dưỡng hồ. Thứ hai, người ta thường chỉ dùng một ấm cho một loại trà, vì mùi cũ đã theo vào thành đất, đổi trà là lẫn mùi.
Ngũ sắc thổ và mấy dòng đất chính
Đất tử sa được chia thành nhiều dòng, trong đó bốn dòng chính là tử nê, hồng nê, chu nê và đoàn nê, ngoài ra còn có bản sơn lục nê. Người ta gọi nhóm đất này là ngũ sắc thổ vì cùng một cục đất, khi nung ở nhiệt độ khác nhau sẽ ra màu khác nhau: đỏ, tím, đen, vàng, trắng. Nhiệt độ nung của tử sa nói chung nằm trong khoảng 1.150 tới 1.210 độ C, nhưng từng dòng đất lại có một khoảng riêng hẹp hơn nhiều.
Các con số hay được dẫn trong tài liệu làm gốm: tử nê khoảng 1.180 độ C, co rút 10 tới 11 phần trăm; hồng nê khoảng 1.100 độ C, co rút tới 14 phần trăm; đoàn nê khoảng 1.175 tới 1.180 độ C, co rút khoảng 12 phần trăm. Riêng chu nê có mức co rút rất lớn, có tài liệu ghi tới 18 tới 25 phần trăm, nên làm ấm bằng dòng đất này khó nhất và tỉ lệ hỏng cao nhất. Độ co rút càng lớn thì ấm càng dễ cong, nổ hoặc bong mặt trong lò, vì vậy một chiếc ấm chu nê đẹp thường được bán giá cao hơn hẳn.
Năm trăm năm từ Cung Xuân đến Thời Đại Bân
Nghề làm đồ gốm ở Di Hưng có từ thời Tống, Nguyên, nhưng phải tới đầu thế kỷ mười sáu mới thành một nghề riêng. Nhân vật được nhắc nhiều nhất là Cung Xuân, một người hầu trong nhà tiến sĩ Ngô Di Sơn ở huyện này. Theo ghi chép cũ, Cung Xuân quan sát các nhà sư ở chùa Kim Sa nặn đồ đất rồi bắt chước, tự luyện đất làm ra một chiếc ấm. Chiếc nổi tiếng nhất gắn với ông là ấm hình gốc cây, mặt đất sần như vỏ cây, màu nâu sẫm. Đây là loại ấm được xem như khởi thuỷ của tử sa, dù thời điểm chính xác ông sống chỉ được suy ra chứ không có niên đại rõ ràng.
Học trò được cho là nổi danh nhất của Cung Xuân là Thời Đại Bân, người sống vào cuối thời Minh. Đóng góp lớn nhất của Thời Đại Bân là kỹ thuật: thay vì nặn một khối đất bằng tay như trước, ông chuyển sang đập đất thành tấm mỏng, quấn lại và vỗ thành thân ấm, rồi ghép đáy, vai và nắp. Cách làm bằng tấm đất này cho phép ấm tròn đều hơn, mép mỏng hơn và bề mặt phẳng hơn, và tới nay vẫn là phương pháp chủ yếu của nghề. Trước Thời Đại Bân có bốn người được nhắc tới như bốn tên tuổi lớn đầu tiên; sau ông có nhóm ba tên tuổi gồm Thời Đại Bân, Lý Trọng Phương và Từ Hữu Tuyền.
Một chiếc ấm được làm thế nào
Công đoạn bắt đầu từ đất, không phải từ bàn nặn. Đất khai lên được phơi, ngâm, giã, sàng, ủ rồi luyện tay nhiều lần cho hết bọt khí. Một người thợ tử sa làm việc với hơn trăm dụng cụ tự chế bằng tre, gỗ và sắt. Với ấm dáng tròn, thợ đập đất thành tấm rồi vỗ quanh một thân côn để thành hình; với ấm dáng vuông, thợ ghép từng tấm phẳng lại với nhau; với dòng ấm có hình nặn nổi, thợ kết hợp cả hai cách rồi đắp thêm. Sau khi định hình, ấm được gọt nhẵn, đánh bóng bằng thìa tre tới khi bề mặt mịn nhưng vẫn giữ vân hạt đất, rồi có thể được chạm hoặc khắc chữ lên thân.
Đất tử sa có đặc điểm là không co giãn theo cách gốm thường, nên ấm phải nung một lần, không qua lửa men, và nếu chẳng may nứt thì gần như bỏ. Năm 2006, nghệ thuật chế tác gốm tử sa Di Hưng được ghi vào danh mục di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia đầu tiên của Trung Quốc, thuộc nhóm nghề thủ công truyền thống. Năm 2018, nghề này tiếp tục được đưa vào danh mục phục hưng nghề thủ công truyền thống.
Hoàng Long Sơn và câu chuyện hết đất
Khối đất nổi tiếng nhất của Di Hưng nằm quanh Hoàng Long Sơn ở thị trấn Đinh Thự, khu mỏ rộng chừng 2,5 ki-lô-mét vuông và tới nay chỉ còn một phần sườn núi. Vì ai cũng đào và cũng bán, việc khai thác mất kiểm soát trong nhiều năm khiến nước ngầm tràn vào các giếng mỏ, biến một phần khu vực thành hồ nước. Năm 2004, chính quyền Di Hưng ra lệnh hạn chế khai thác; tháng 4 năm 2005, lệnh cấm khai thác được ban hành và giếng cuối cùng bị lấp, thời hạn đóng mỏ ban đầu là ba năm. Sau đó khu vực được quy hoạch thành vùng bảo vệ tài nguyên đất tử sa và khai thác trở lại có kiểm soát.
Cần nói thêm một điểm ít được nhắc. Một số nhà nghiên cứu gốm cho rằng khẳng định chỉ Di Hưng mới có tử sa là chưa chính xác, vì vùng đất ngay sát ranh giới ba tỉnh Giang Tô, Chiết Giang và An Huy đều thuộc dãy Thiên Mục và có các mạch đất sét tương tự. Điều này không hạ thấp giá trị của Di Hưng, nơi có đất tốt nhất và nghề lâu đời nhất, nhưng nó đặt lại một câu hỏi đơn giản: cái làm nên tử sa là mỏ đất hay là tay nghề đứng trên mỏ đất ấy.
Cái giá của một chiếc ấm
Người làm ấm nổi tiếng nhất thế kỷ hai mươi là Cố Cảnh Châu, sống từ năm 1915 tới năm 1996, thường được gọi là bậc thầy của nghề ấm. Ông phần lớn làm dòng ấm mộc dáng đơn, không đắp hình, nên tay nghề thể hiện ở tỉ lệ dáng và độ mịn đường nét chứ không ở chi tiết trang trí. Đỉnh cao của giá thị trường gắn với tên ông: năm 2015, bộ ấm và bộ đồ pha trà có đề tài sóc và nho của ông được bán tại một cuộc đấu giá ở Bắc Kinh với giá gõ búa 80 triệu nhân dân tệ, cộng phí thành 92 triệu nhân dân tệ, lập kỷ lục cho ấm tử sa. Bộ đó gồm mười món, được cho là làm năm 1955 theo đơn đặt hàng cho một công trình lớn ở Bắc Kinh. Trước đó, kỷ lục cũ thuộc về một bộ chín món của ông với giá 28,75 triệu nhân dân tệ năm 2014.
Về quy mô nghề, số liệu chính thức của cơ quan quản lý liệt kê khoảng 20.000 người làm gốm tử sa tính tới khoảng năm 2012, còn phỏng vấn báo chí với người trong nghề ở Đinh Thự lại nói con số người tham gia từ đào đất, luyện đất tới khắc chữ, đóng gói, bán hàng lên tới hàng chục nghìn. Hai con số này không mâu thuẫn mà khác phạm vi: một là số người làm nghề trực tiếp, một là số người sống bằng cả chuỗi sản xuất.
Vài hiểu nhầm thường gặp
- Ấm tử sa đắt không phải vì đất quý mà vì đất khó làm. Các dòng đất co rút mạnh cho tỉ lệ hỏng rất cao, nên một phần giá là phần đã trả cho những chiếc ấm vỡ.
- Ấm không cần tráng men, nhưng cũng không phải cứ đất nâu là tử sa; màu đất sau khi nung không đủ để phân biệt dòng đất, phải xem vân hạt và độ nặng.
- Dùng một ấm cho nhiều loại trà là cách nhanh nhất để mất mùi. Nếu mới chơi, chọn một loại trà rồi giữ nguyên.
- Không nên tráng rửa ấm bằng nước rửa chén hay xà phòng, vì thành đất hút vào rồi nhả ra ở lần pha sau.
- Từ Di Hưng về Vô Tích hoặc về Thượng Hải đều có tàu và xe khách; thị trấn Đinh Thự cách trung tâm Di Hưng khoảng hơn mười ki-lô-mét, đi taxi hoặc xe buýt nội thành.
Nguồn: Cổng thông tin Di sản văn hoá phi vật thể Trung Quốc — 宜兴紫砂陶制作技艺 · Bách khoa Baidu — 宜兴紫砂 · Nhân dân nhật báo (bản văn hoá) — “壶艺泰斗”顾景舟紫砂珍品再创拍卖记录 · Đại Kỷ Nguyên — 紫玉金砂(2):宜兴紫砂矿源探究 · Mỹ Hồ võng — 紫砂泥的收缩率与烧成温度
Ở Di Hưng, một loại đất sét có cấu trúc lỗ rỗng li ti được nặn thành ấm trà rồi nung mà không tráng men, để thành ấm tự thấm hương trà qua năm tháng — và cũng vì thế mà một chiếc ấm của bậc thầy Cố Cảnh Châu từng được bán với giá 92 triệu nhân dân tệ.
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.