Trang chủ › Điểm đến › Quế Dương và thác Hoàng Quả Thụ: thành phố rừng mát lạnh, thác lớn nhất châu Á
Điểm đến

Quế Dương và thác Hoàng Quả Thụ: thành phố rừng mát lạnh, thác lớn nhất châu Á

THÀNH PHỐ RỪNG VÀ NGỌN THÁC 77,8 MÉT
Thác Hoàng Quả Thụ nhìn qua khe lá: khối nước trắng đổ thành nhiều tầng xuống vách đá cao, hai bên là rừng cây xanh rậm, phía trên là sườn núi đá vôi và bầu trời xám nhạt.
Ảnh: Wikimedia Commons · Republic of Vietnam · Public domain

Quế Dương — Quý Dương: thành phố mát lạnh trên cao nguyên đá vôi

Người Việt thường viết tên thành phố này là Quý Dương; cách đọc Quế Dương cũng gặp trong một số tài liệu du lịch. Cả hai đều chỉ cùng một nơi: thủ phủ tỉnh Quý Châu, thành phố lớn nằm ở tây nam Trung Quốc, trên cao nguyên đá vôi Vân – Quý. Tên chữ Hán của thành phố là 貴陽, nghĩa là “phía nam núi Quý” — theo cách nói phong thuỷ cổ, sườn nam của một ngọn núi gọi là “dương”.

Điều khiến Quý Dương khác biệt với phần lớn thủ phủ Trung Quốc không phải nhà cao tầng mà là khí hậu. Thành phố nằm ở khoảng 1.100 mét trên mực nước biển, giữa vĩ độ 26 và 27, nhiệt độ trung bình năm chỉ khoảng 15,3 độ C. Mùa hè ở đây trung bình khoảng 22 đến 23 độ C, nên các tài liệu quảng bá của địa phương vẫn gọi Quý Dương là “thành phố tránh nóng của Trung Quốc”. Danh hiệu đó không phải khẩu hiệu tự phong: năm 2007, Hội Khí tượng Trung Quốc trao cho Quý Dương danh hiệu chính thức “đô thị tránh nóng của Trung Quốc”. Trước đó, năm 2004, thành phố trở thành nơi đầu tiên trong cả nước nhận danh hiệu “thành phố rừng quốc gia”.

Người Quý Dương tự gọi thành phố mình là “Lâm Thành” — thành phố rừng. Quanh thành phố có hai vành đai rừng phòng hộ, vành trong dài khoảng 70 ki-lô-mét với diện tích gần 24 vạn mẫu, vành ngoài dài khoảng 304 ki-lô-mét. Sự thật ít được nhắc là vào năm 1995, Quý Dương từng đứng đầu cả nước về mức độ ô nhiễm mưa axít; việc trồng hai vành đai rừng và đóng cửa các cơ sở gây ô nhiễm là cách thành phố tự chữa mình trong hơn hai thập niên sau đó.

Trung tâm thành phố: Giáp Tú lâu và dòng Nam Minh

Con sông chảy qua trung tâm Quý Dương là Nam Minh Hà. Giữa lòng sông có một khối đá lớn tên Ngao Ky, và trên khối đá ấy là Giáp Tú lâu, lầu gỗ ba tầng ba mái được dựng năm 1598, đời Vạn Lịch nhà Minh, do tuần phủ Quý Châu là Giang Đông Chi cùng tuần án Ứng Triều Khanh cho xây. Tên “Giáp Tú” lấy từ thành ngữ “khoa giáp đĩnh tú”, ý nói mong cho đất này sinh ra nhiều người đỗ đạt. Lầu cao 22,9 mét, khung gỗ kết hợp trụ đá đỡ mái, bốn góc mái vươn lên, bốn phía có lan can đá trắng chạm hoa. Đây là di tích được Nhà nước Trung Quốc xếp hạng bảo vật quốc gia.

Nối từ bờ bắc sang bờ nam qua chân lầu là cầu Phù Ngọc, dài hơn 90 mét. Cầu vốn có chín vòm, dân gian gọi là “chín mắt soi bãi cát”; khi làm đường ven sông người ta lấp mất hai vòm, hiện còn thấy bảy. Trên cầu có đình Hàm Bích, dưới cầu là vực Hàm Bích, phía nam là vườn Thuý Vi; cả cụm này hợp lại thành “thắng tích phía nam thành”. Lầu Giáp Tú hiện nay mang dáng dấp lần trùng tu năm 1909, và được sửa chữa thêm năm 1982. Trong lầu treo một câu đối dài 206 chữ do Lưu Ngọc Sơn người đời Thanh soạn, tóm cả thế núi sông và chuyện thịnh suy của thành phố.

Công viên Kiềm Linh và đàn khỉ trong lòng thành phố

Một điểm lạ của Quý Dương là trong nội thành có cả một ngọn núi rừng. Công viên Kiềm Linh nằm quanh núi Kiềm Linh, chân núi có hồ, sườn núi phủ cây rậm. Trên núi có chùa Hoằng Phúc, do nhà sư Xích Tùng khai sơn khoảng năm 1672 đời Khang Hy. Nổi tiếng nhất với du khách có lẽ là đàn khỉ vàng (khỉ mốc) sống tự nhiên: chúng quen người, ngồi dọc lối đi và có thói quen chộp túi nilon của khách. Một đường mòn đá gọi là “cửu khúc kính” uốn từ chân núi lên chùa. Trong núi còn có động Kỳ Lân, và đây là điểm lịch sử khá nặng: trong Chiến tranh Trung – Nhật, tướng Trương Học Lương từng bị giam một thời gian ở chính khu này.

Thanh Nham cổ trấn: thành quân sự hơn 600 năm

Cách trung tâm Quý Dương khoảng 29 ki-lô-mét về phía nam là Thanh Nham cổ trấn, một thị trấn phòng thủ được lập năm 1378, niên hiệu Hồng Vũ thứ mười một nhà Minh, trên tuyến đường bưu trạm từ Vân Nam ra kinh đô. Đây không phải làng thương hồ như các “thuỷ hương” ở miền đông Trung Quốc, mà là một thành quân sự: tường thành xây bằng đá địa phương, cổng thành và phố chính xếp theo thế phòng ngự. Cổ trấn gắn với Triệu Dĩ Quýnh, người Quý Châu đầu tiên đỗ trạng nguyên năm 1886; phủ trạng nguyên của ông vẫn còn trong thị trấn. Ngoài ra còn có Vạn Thọ cung, Văn Xương các và các đền miếu của cả người Hán lẫn người Miêu địa phương.

Thác Hoàng Quả Thụ: những con số và một vị trí địa chất đặc biệt

Quý Dương chỉ là cửa ngõ. Điểm đến thật sự của cả tỉnh Quý Châu nằm cách thành phố khoảng 128 ki-lô-mét về phía tây nam: thác Hoàng Quả Thụ, trong huyện tự trị dân tộc Bố Y và Miêu Trấn Ninh, thành phố An Thuận. Đây là thác nước lớn nhất Trung Quốc và lớn nhất châu Á, được người Trung Quốc gọi bằng một biệt danh ngắn: “đệ nhất thác Trung Hoa”.

Các con số được ghi thống nhất trong nhiều nguồn: thác cao 77,8 mét, trong đó thân thác chính cao 67 mét; tổng chiều rộng 101 mét, riêng đỉnh thác chính rộng 83,3 mét. Chân thác ở độ cao 903,9 mét so với mực nước biển. Thác nằm trên sông Bạch Thuỷ, một phụ lưu của sông Đả Bang, rồi đổ vào Bắc Bàn Giang và cuối cùng thuộc hệ thống sông Châu Giang — nghĩa là nước ở đây chảy về Quảng Đông chứ không chảy về Trường Giang. Cả vùng là đá vôi, và chính nền đá vôi bị dòng nước cắt qua hơn vạn năm đã tạo ra hình khối nhiều tầng như ngày nay.

Vì sao lại có tên “Hoàng Quả Thụ”

Tên gọi “Hoàng Quả Thụ” nghĩa đen là “cây quả vàng”, và nó không phải tên một người. Theo cách giải thích phổ biến nhất, chữ “hoàng quả” là âm địa phương của “hoàng quyệt” — cây si lông, một loài cây mọc rất nhiều quanh khu thác. Một cách lý giải khác, mang tính dân gian hơn, kể rằng bên vách đá xưa mọc một cây cổ thụ cho quả vàng, người trong vùng lấy đó đặt tên. Tên cũ của thác trong sách vở là “thác Bạch Thuỷ” theo tên sông.

Thác chỉ thật sự bước từ vô danh vào sách vở năm 1638. Tháng 4 năm ấy, nhà địa lý và lữ hành Từ Hà Khách trên chặng cuối cùng của đời mình đã vào Quý Châu và dừng lại vùng An Thuận bảy ngày. Trong “Từ Hà Khách du ký”, ông ghi lại cảnh nước đổ: “đường bên trái có một dòng khe treo ngược, muôn dải lụa bay giữa không; đá trên khe như lá sen úp, khoét ba cửa ở giữa, nước từ trên lá tràn xuống, như muôn bức sa mỏng…” và kết luận rằng những câu thơ “rèm châu”, “dải lụa treo đỉnh núi xa” từ trước tới nay chưa đủ sức tả hết cái hùng vĩ của thác này. Ông được xem là người đầu tiên ghi chép đầy đủ về Hoàng Quả Thụ.

Thuỷ Liêm Động: hang nằm sau màn nước

Điều làm Hoàng Quả Thụ không thể so sánh với các thác cùng cỡ nằm ở điểm này: nửa lưng chừng thác có một hang xuyên thẳng qua màn nước. Hang dài 134 mét, nằm ở độ cao 40 đến 47 mét của vách thác, cấu tạo gồm sáu cửa sổ nhìn ra, năm khoang hang, ba mạch nước ngầm và sáu lối đi nối nhau. Đây là kết quả nhiều giai đoạn lắng của đá vôi: lớp măng đá mỏng phủ dần, dâng dần cho tới khi biến thành một vòm che trên đầu người đi. Đứng trong hang, phía ngoài cửa sổ là cả khối nước đang rơi; ai chưa đi lần nào thường tưởng mình sẽ bị ướt sũng, nhưng phần lớn mặt hang vẫn khô nhờ vòm đá.',

Bộ phim truyền hình 1986 chuyển thể “Tây Du Ký” có nhiều cảnh quay ở khu thác này, nên với khán giả Việt Nam và Trung Quốc ở độ tuổi trung niên, hình khối này không hoàn toàn xa lạ. Cần nói thẳng một chỗ mà tài liệu địa phương không thống nhất: nguồn thì nói cảnh quay ở Thuỷ Liêm Động, nguồn lại nói cảnh kết phim quay ở thác Đẩu Pha Đường cách đó vài ki-lô-mét. Cả hai đều thuộc quần thể Hoàng Quả Thụ, nên hiểu theo nghĩa rộng thì không sai.

Không phải một thác mà là một “đại gia đình” thác

Trong dải sông Bạch Thuỷ dài khoảng 20 ki-lô-mét, người ta đếm được 18 thác lớn nhỏ với nhiều dáng vẻ khác nhau. Vì vậy quần thể này được Tổ chức Kỷ lục thế giới Guinness công nhận là “quần thể thác nước lớn nhất thế giới”, và theo tài liệu địa phương thì việc công nhận diễn ra năm 1999. Một vài cái tên đáng chú ý:

  • Thác Đẩu Pha Đường: đỉnh thác rộng nhất trong quần thể, khoảng 105 mét, cao 21 mét. Mặt nước trải rộng và phẳng chứ không đổ cao.
  • Thác Loa Ty Than: dài khoảng 350 mét, nước chảy trườn trên một mặt đá thoải nên nhìn như một tấm vải trắng lớn.
  • Ngân Liên Truỵ Đàm: dáng mảnh, nước tách thành nhiều dòng nhỏ đổ xuống một vũng sâu, thường được xem là thác đẹp nhất khu.
  • Thác Tích Thuỷ Than: độ rơi khoảng 410 mét, thuộc loại thác nhiều tầng, nằm trong cùng khu bảo tồn nhưng đường vào khó hơn.

Tháng 5 năm 2007, khu thác Hoàng Quả Thụ được công nhận là khu du lịch hạng AAAAA — mức cao nhất trong hệ thống xếp hạng của Trung Quốc. Một trong những lý do nằm ở vị trí: thác có thể ngắm từ trên, dưới, trước, sau, trái, phải, ban ngày và ban đêm. Về đêm, khu du lịch mở tour chiếu sáng; bộ đèn rọi vào khối nước khiến thác hiện thành một dải sáng chuyển màu.

Người Bố Y và người Miêu quanh thác

Huyện Trấn Ninh là huyện tự trị của người Bố Y và người Miêu, và đây là phần nhiều du khách bỏ qua vì mải chụp thác. Người Bố Y ở vùng này nổi tiếng với nghề nhuộm chàm và vẽ sáp ong lên vải — kỹ thuật “lạp nhiễm” dùng sáp ong làm chất cản màu rồi nhuộm chàm, tạo hoa văn trắng xanh. Tháng sáu âm lịch hằng năm, người Bố Y tổ chức lễ hội “mùng sáu tháng sáu” với hát đối đáp và các trò chơi dân gian. Ở An Thuận còn có văn hoá Đồn Bảo: hậu duệ của những đoàn lính Minh được điều xuống trấn giữ tây nam từ thế kỷ 14, giữ nguyên cách ăn mặc và loại hát nghi lễ gọi là “địa hý”, diễn bằng mặt nạ gỗ.

Đi lại và những điều nên biết trước

Quý Dương là điểm xuất phát hợp lý nhất. Từ Quý Dương có thể đi tàu cao tốc tới An Thuận trong khoảng nửa giờ, rồi đi xe buýt hoặc taxi thêm chừng ba phần tư giờ tới cổng khu thác. Nhiều du khách chọn ngủ lại thị trấn Hoàng Quả Thụ một đêm để đi cả ba khu: khu thác chính, khu Đẩu Pha Đường và khu Thiên Tinh Kiều — mỗi khu có xe điện riêng, không thể đi bộ xuyên hết trong buổi sáng.

Về thời điểm: từ tháng 6 đến tháng 10 là mùa mưa, nước nhiều và thác đổ mạnh nhất, nhưng cũng dễ gặp mưa và sương. Từ tháng 11 đến tháng 4 là mùa khô, khối nước mỏng đi rõ rệt, có năm chỉ còn vài dòng nước tách rời trên vách đá — đi trái mùa rất dễ thất vọng, đây là điều các ảnh quảng cáo không bao giờ nói. Nên mang áo mưa chứ không phải ô, vì ở gần chân thác gió thổi nước thành bụi mù. Giá vé và giờ mở cửa thay đổi theo mùa và theo từng khu, nên kiểm tra lại trước khi tới thay vì tin vào con số in trong sách hướng dẫn cũ.

Còn một điều nữa đáng để dành thời gian: quay lại Quý Dương ăn một bữa. Thành phố này là quê hương của thương hiệu tương ớt “Lão Can Ma”, và quán ăn đêm ở Quý Dương nổi tiếng với món bún gạo và đậu hũ nướng than. Một chuyến Quý Châu trọn vẹn thường không kết thúc ở thác, mà ở một quán vỉa hè trong thành phố.

Nguồn: Wikipedia tiếng Trung — Thác Hoàng Quả Thụ · Trang tin điện tử Chính quyền tỉnh Quý Châu — Công viên quốc gia Hoàng Quả Thụ, An Thuận · Báo Trung Quốc Nhật Báo — Một góc khác ít người biết về thác Hoàng Quả Thụ · Wikipedia tiếng Anh — Thác Hoàng Quả Thụ (Huangguoshu Waterfall) · Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc CGTN — Thác Hoàng Quả Thụ, niềm vui mùa hè ngoạn mục

Quý Dương mát đến mức Hội Khí tượng Trung Quốc phải đặt cho nó một danh hiệu chính thức; còn cách thành phố 128 ki-lô-mét, một dòng sông đá vôi đổ xuống thành ngọn thác lớn nhất châu Á, nơi người ta đi bộ được ngay phía sau màn nước.
Thấy hữu ích?
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.
Theo dõi Page