Nhạc cụ cổ truyền Trung Quốc: tiếng nhạc đi theo từng vùng đất
Nhạc cụ cổ truyền Trung Quốc: tiếng nhạc đi theo từng vùng đất
Đặt một dàn nhạc Tô Châu, một dàn nhạc Quảng Châu và một đoàn người Miêu ở Quý Châu cạnh nhau, cả ba đều chơi thứ có thể gọi chung là nhạc cổ truyền Trung Quốc, nhưng tai người nghe không thể lẫn chúng vào nhau. Người Tô Châu chơi sáo, đàn tranh và nhị hồ với tiết tấu nhỏ nhẹ như nước chảy dưới cầu. Người Quảng Châu kéo cây cao hồ thanh hơn, rộn hơn. Đoàn người Miêu thổi chùm ống tre buộc cạnh nhau, âm vang theo nhịp chân giậm trên sân đá.
Cùng một đất nước, ba thứ tiếng. Bài này đi theo tấm bản đồ ấy: nhạc cụ được làm ra thế nào, mỗi vùng dựng cho mình một bộ nhạc cụ và một cách chơi ra sao, và tiếng nhạc đó còn lại gì trong đời sống hôm nay.
Nói tới vùng, phải bắt đầu từ nghề làm nhạc cụ
Nhạc cụ cổ truyền Trung Quốc phần lớn không ra lò từ dây chuyền công nghiệp mà từ những làng nghề, và vật liệu quyết định âm sắc trước cả tay người chơi.
- Gỗ ngô đồng nhẹ và truyền âm tốt được dùng làm mặt đàn tranh, đàn cổ tranh; tấm gỗ càng khô, càng nhẹ thì tiếng càng trong.
- Trúc là vật liệu của họ nhạc khí hơi: sáo địch làm từ ống trúc, dán thêm một màng mỏng lấy từ ruột cây sậy để tiếng rung và ngân.
- Dây đàn xưa se bằng tơ, nay phổ biến dây thép bọc ni lông. Người chơi đàn cổ vẫn thích dây tơ vì tiếng mềm, nhưng dây tơ đứt nhiều và khó lên đúng cao độ trong khí hậu ẩm.
- Mặt hộp cộng hưởng của nhị hồ căng bằng da trăn. Vì da trăn bị kiểm soát trong thương mại quốc tế, nhiều xưởng đã nghiên cứu vật liệu thay thế, tuy giới chơi đàn vẫn tranh luận xem âm sắc có đạt được như da thật hay không.
- Sênh là nhạc cụ có lưỡi gà tự do cổ nhất của Trung Quốc, xuất hiện từ khoảng ba nghìn năm trước, gồm nhiều ống trúc cắm vào một bầu. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nó đi theo con đường thương mại sang châu Âu và góp phần gợi ra họ nhạc cụ lưỡi gà tự do về sau, dù mức độ ảnh hưởng vẫn còn được bàn.
Nghề làm nhạc cụ tập trung ở vài nơi có tiếng. Dương Châu được người chơi đàn tranh nhắc tới như một trong những nơi làm đàn lớn nhất nước. Nhà máy nhạc cụ dân tộc Thượng Hải với thương hiệu Đôn Hoàng là cái tên quen thuộc trong các nhạc viện. Tô Châu lại nổi về đàn dây và đàn gảy. Ở những làng nghề này, một cây đàn tốt vẫn phải qua tay người thợ kiểm tra bằng mắt và bằng tai.
Mỗi vùng đất, một bộ nhạc cụ
Giang Nam tơ trúc: nhạc thính phòng của vùng nước
Tên gọi đã nói rõ cách chia nhạc cụ: tơ là nhóm dây, trúc là nhóm ống. Dàn nhạc Giang Nam tơ trúc là một nhóm nhỏ người ngồi quanh chiếc bàn, chơi sáo địch, nhị hồ, tỳ bà, dương cầm, tam huyền, sênh và đàn tranh. Không có nhạc trưởng, không có bục cao, các nhạc công nghe nhau mà vào nhịp. Nhạc này thường vang lên trong sân nhà, ở quán trà và trong những buổi hội xuân ở vùng Thượng Hải, Tô Châu, Hàng Châu. Năm 2006, Giang Nam tơ trúc được đưa vào danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia đợt đầu của Trung Quốc.
Quảng Đông âm nhạc: cây cao hồ và những bản nhạc rộn
Ở vùng Quảng Châu, thứ nhạc thính phòng được gọi đơn giản là nhạc Quảng Đông, hình thành và thịnh lên vào cuối đời Thanh, đầu thời Dân quốc. Dàn nhạc nhỏ, thường có cao hồ, dương cầm, đàn nguyệt, sáo và đàn dây gảy. Cây cao hồ là cải tiến của nhị hồ với dây cao hơn, tiếng sáng và xuyên hơn — nhạc sĩ Lữ Văn Thành là người gắn liền với bước cải tiến này. Những bản như Bộ Bộ Cao, Bình Sa Lạc Nhạn trở thành quen tai tới mức nhiều người nước ngoài vẫn nhớ giai điệu mà không biết tên. Nhạc Quảng Đông theo chân người Hoa ra hải ngoại, trở thành một trong những thứ nhạc Trung Quốc được nghe nhiều nhất ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Nam âm Phúc Kiến: thứ nhạc được gọi là hoá thạch sống
Ở Tuyền Châu và Hạ Môn, người ta chơi và hát nam âm, một truyền thống mà giới nghiên cứu thường gọi là bảo tàng sống của âm nhạc Trung Hoa cổ. Dàn nhạc gọn: động tiêu, nhị huyền, tỳ bà cầm ngang, tam huyền và phách. Phần hát dùng một lớp phát âm cổ, người nghe hiện đại nhiều khi không hiểu hết, nhưng chính vì thế mà nó giữ được dấu vết của tiếng Hán xưa. Những bản nhạc dài, chậm, mở đầu bằng tiếng phách rồi mới vào đàn. Năm 2009, nam âm được UNESCO ghi vào Danh sách đại diện Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.
Cổ nhạc trống Tây An: nhạc của đền và hội
Tây An có một loại nhạc nghi lễ gọi là cổ nhạc, chơi trong các hội đền và dịp lễ, với trống là xương sống. Dàn nhạc chia thành nhóm gõ và nhóm thổi, gồm trống lớn, trống nhỏ, chiêng, sênh, quản và sáo. Điều đặc biệt là nhạc phổ: nhiều bản được chép tay bằng một hệ ký âm riêng, truyền từ đời này sang đời khác trong các nhóm nhạc dân gian. Cổ nhạc Tây An cũng được UNESCO ghi nhận năm 2009, cùng đợt với nam âm Phúc Kiến.
Nhạc cụ của các dân tộc thiểu số
Nếu chỉ nhìn vào nhạc cụ của người Hán thì chưa thấy hết Trung Quốc. Miền Tây Nam và miền Bắc là nơi nằm một nửa kho nhạc cụ của đất nước này.
- Lô sênh của người Miêu ở Quý Châu: nhiều ống tre cắm vào một bầu gỗ, có loại cao tới vài mét, thổi trong lễ hội và trong những cuộc thi giữa các bản làng. Tiếng lô sênh vừa là nhạc vừa là hiệu lệnh tập hợp.
- Hồ ca mã đầu cầm của người Mông Cổ: thân đàn chạm hình đầu ngựa, hai dây, tiếng gần như tiếng người hát. Nghệ thuật chế tác và trình diễn nhạc cụ này được UNESCO ghi nhận năm 2008.
- Hồ lô ti của người Thái ở Vân Nam: quả bầu làm khoang cộng hưởng, ba ống trúc, người mới học thổi vài ngày đã ra giai điệu.
- Độc huyền cầm của người Kinh ở Đông Hưng, Quảng Tây: một dây duy nhất, người chơi uốn thanh gảy để luyến láy. Đây là cây đàn trùng dáng với đàn bầu của Việt Nam, và nguồn gốc của nó tới nay chưa thống nhất: có ý kiến cho là từ Việt Nam truyền sang, có ý kiến cho là ngược lại. Sử liệu cả hai phía đều chưa đủ để chốt.
- Trống đồng của người Choang và nhiều dân tộc miền Nam: thân đúc đồng, mặt có hoa văn, vừa là nhạc khí vừa là vật thiêng trong nghi lễ.
Ai giữ tiếng nhạc hôm nay
Từ giữa thế kỷ 20, Trung Quốc dựng lên mô hình dàn nhạc dân tộc hiện đại: lấy nhạc cụ cổ truyền nhưng xếp thành bè như dàn nhạc giao hưởng phương Tây, có nhạc trưởng, có nhạc phổ viết sẵn, chia thành bốn nhóm thổi, gảy, kéo, gõ. Các nhạc viện mở khoa nhạc cụ dân tộc, có kỳ thi cấp chứng chỉ theo bậc, và nhiều gia đình cho con học đàn từ nhỏ như một môn ngoại khoá. Nhờ đó, số người chơi đàn tranh hay tỳ bà ở các thành phố lớn hôm nay đông hơn hẳn nửa thế kỷ trước.
Nhưng phía sau con số ấy là những chỗ khó. Nhạc cụ tốt đắt, thời gian học lâu, và thu nhập của nhạc công dân gian không cao, nên nhiều nhóm nhạc ở nông thôn ngày càng khó trẻ hoá đội ngũ. Một số loại nhạc như cổ nhạc Tây An hay nam âm Phúc Kiến chủ yếu sống nhờ người cao tuổi; chương trình bảo tồn nhà nước mới chỉ giữ được phần hồn, chưa chắc giữ được phần người.
Kết lại
Điều đáng nhớ về nhạc cụ Trung Quốc không nằm ở một cây đàn nổi tiếng nào, mà ở cách nó bám vào đất. Cùng là dây tơ, khí hậu ẩm của miền nam và khí hậu khô của miền bắc cho ra hai thứ tiếng khác nhau; cùng là trống, người Tây An dùng cho nghi lễ, người Choang dùng cho việc làng. Người ngoài nghe nhạc cổ truyền Trung Quốc thường nói giống nhau, nhưng chỉ cần nghe vài giây là người trong vùng đã biết bài này đến từ đâu.
Nguồn: UNESCO — Nghệ thuật đàn cổ cầm và danh sách di sản văn hoá phi vật thể · Tân Hoa Xã — Nghề làm nhạc cụ dân tộc và các làng nghề truyền thống · Nhân Dân nhật báo — Bảo tồn nhạc cụ của các dân tộc thiểu số vùng Tây Nam · Bảo tàng Quốc gia Trung Quốc — Nhạc khí Trung Hoa qua các triều đại · Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc CCTV — Dàn nhạc dân tộc Trung Quốc và những tác phẩm kinh điển
Cùng là dây tơ, khí hậu ẩm miền nam và khí hậu khô miền bắc cho ra hai thứ tiếng khác nhau. Cùng là trống, người Tây An dùng cho nghi lễ, người Choang dùng cho việc làng. Nhạc cụ Trung Quốc đẹp nhất ở chỗ nó bám vào đất.
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.