Từ Quang Khải: người dịch hình học châu Âu và viết sách nông nghiệp lớn nhất thời Minh
Từ Quang Khải: người dịch hình học châu Âu và viết sách nông nghiệp lớn nhất thời Minh
Từ Quang Khải sống từ năm 1562 tới năm 1633, làm quan tới chức đại thần dưới triều Minh. Ông là người cùng linh mục Matteo Ricci dịch sáu cuốn đầu bộ Cơ sở Hình học của Euclid sang chữ Hán, đưa vào tiếng Hán những chữ như điểm, đường, mặt, góc vuông mà tới nay người Trung Quốc vẫn dùng. Ông cũng là người chủ biên bộ Nông chính toàn thư, sách nông nghiệp đồ sộ nhất mà người Trung Quốc từng có, và là người đứng ra lo việc sửa lịch khi bộ lịch cũ đã hỏng. Bài này kể cả phần ông làm được lẫn phần thường bị thổi lên quá mức.
Thân thế và quê quán
- Sinh ngày 24 tháng 4 năm 1562 tại huyện Thượng Hải, phủ Tùng Giang, nay thuộc thành phố Thượng Hải.
- Mất ngày 8 tháng 11 năm 1633 tại Bắc Kinh, thọ bảy mươi mốt tuổi, khi đang giữ chức đại học sĩ trong nội các.
- Tên tự: Tử Tiên. Hiệu: Huyền Hỗ. Tên thánh Công giáo của ông là Phaolô, phiên âm trong sử Trung Quốc là Bảo Lộc.
- Gia thế: nhà buôn đã sa sút, không thuộc tầng lớp quyền quý. Ông đi thi nhiều lần mới đỗ. Năm 1597, lúc ba mươi lăm tuổi, ông đỗ cử nhân; mãi năm 1604, lúc bốn mươi hai tuổi, ông mới đỗ tiến sĩ và được vào Viện Hàn lâm.
- Điểm ngoặt: năm 1600 ông gặp Matteo Ricci ở Nam Kinh. Năm 1603, tại Nam Kinh, ông được một linh mục khác làm phép rửa tội và nhận tên thánh Phaolô. Từ đó ông gắn sự nghiệp học thuật của mình với việc đưa kiến thức phương Tây vào Trung Quốc.
- Chỗ đứng trong lịch sử: ông là một trong ba trụ cột Công giáo đầu tiên của Trung Quốc, bên cạnh Lý Chi Tảo và Dương Đình Quân, nhưng khác hai người kia ở chỗ ông thiên về khoa học và nông nghiệp hơn là thần học.
Sáu cuốn Cơ sở Hình học và những chữ Hán còn dùng tới nay
Năm 1607, ông cùng Matteo Ricci dịch và cho in sáu cuốn đầu trong mười lăm cuốn bộ Cơ sở Hình học của Euclid, dựa trên bản chú giải tiếng La-tinh của linh mục Clavius. Đây là lần đầu một tác phẩm hình học phương Tây được dịch nguyên văn sang chữ Hán. Công lao cụ thể và bền vững nhất của công trình này là bộ thuật ngữ: các chữ điểm, đường, mặt, góc, góc vuông, đường song song được những người dịch đặt ra và định nghĩa, rồi đi vào tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật, tiếng Hàn và tồn tại tới ngày nay.
Cần nói cho đúng tỉ lệ công việc: Ricci lo phần nội dung toán học và giải nghĩa, còn Từ Quang Khải lo phần chữ nghĩa, cách diễn đạt, và cách đặt thuật ngữ sao cho người đọc chữ Hán hiểu được. Đây là công việc của hai người, không phải của riêng ai. Và đây là chỗ dễ bị kể quá: bộ sách chỉ dịch sáu trên mười lăm cuốn. Phần còn lại mãi tới năm 1857 mới được Lý Thiện Lan và Alexander Wylie dịch nốt.
Nông chính toàn thư
Đóng góp lớn nhất và cũng ít được nhắc đúng mức của ông là bộ Nông chính toàn thư, gồm sáu mươi quyển, chia làm mười hai mục lớn, bàn từ gốc của nghề nông, chế độ ruộng đất, việc cày cấy, thủy lợi, nông cụ, trồng trọt, trồng dâu nuôi tằm, chăn nuôi, chế biến, cho tới cứu đói. Ông soạn bộ sách này trong những năm cuối đời, dựa trên trải nghiệm của chính mình ở ruộng đất nhà mình và ở vùng Thiên Tân, nơi ông thử trồng lúa nước. Ông mất trước khi sách in; năm 1639, Trần Tử Long đứng ra biên tập và cho khắc in.
Ba phần được xem là chất xám riêng của ông:
- Mục cứu đói. Ông dành phần lớn dung lượng cho các cách chống đói: loại cây cứu đói, cách dự trữ, cách chế biến thay thế khi mất mùa. Đây là mối bận tâm suốt đời ông và cũng là phần ít bị sao chép từ sách cũ nhất.
- Phần thủy lợi và nông cụ phương Tây. Ông cùng một linh mục Dòng Tên biên soạn sách về các máy dẫn nước kiểu châu Âu, rồi đưa vào sách lớn.
- Cây lương thực mới. Năm 1608, ông viết một cuốn sách nhỏ riêng về cây khoai lang, ghi lại cách trồng, cách giữ giống, cách dùng củ để chống đói, và chủ trương đưa loại cây này ra trồng ở miền bắc. Ông cho rằng đây là cây có thể cứu được nhiều người trong những năm mất mùa.
Cần nhấn rõ một điều hay bị bỏ: phần lớn nội dung bộ sách là trích dẫn lại từ các sách nông nghiệp trước đó, từ sách thời Hán cho tới sách đời Nguyên, cộng với kinh nghiệm dân gian. Công lao của ông nằm ở việc gom lại thành một hệ thống, ở cách phân loại, và ở ba phần riêng nói trên, chứ không phải ở việc ông nghĩ ra mọi thứ.
Sửa lịch và những năm cuối
Tới cuối đời Minh, bộ lịch nhà Minh đã sai rõ. Ngày 21 tháng 6 năm 1629, một lần nhật thực đã khiến cả bộ lịch cũ lẫn lịch Hồi giáo đoán sai thời điểm, trong khi nhóm Dòng Tên đoán đúng. Triều đình lập một cơ quan riêng để sửa lịch và giao cho Từ Quang Khải đứng đầu, với sự tham gia của các linh mục. Nhóm này biên soạn bộ sách lịch lớn, đưa vào phương pháp tính của châu Âu. Ông mất năm 1633 khi công việc đang dang dở; đồng sự của ông làm tiếp, nhưng nhà Minh sụp đổ năm 1644 trước khi bộ lịch mới kịp ban hành, và mãi tới năm 1645 nhà Thanh mới dùng một bản cải biên.
Ngoài học thuật, ông còn là quan. Năm 1632, ở tuổi bảy mươi, ông được phong đại học sĩ, tức vào hàng tể tướng. Ông cũng từng dâng thư bàn việc đúc đại bác kiểu phương Tây để chống quân Thanh, và cổ vũ việc dùng pháo lớn trong quân đội.
Những mặt hạn chế
- Việc sửa lịch không thành ngay trong đời ông. Bộ lịch do nhóm ông làm dở dang và không được áp dụng dưới triều Minh; thành quả chỉ được dùng sau khi nhà Minh đã mất.
- Công lao khoa học gắn chặt với các linh mục. Ông không biết tiếng La-tinh và không tự đọc được nguyên bản; mọi tri thức phương Tây ông tiếp nhận đều qua trung gian là các linh mục, với mục đích truyền giáo đi kèm. Nói ông là người Trung Quốc đầu tiên nắm khoa học phương Tây là cách nói gọn, không đủ chính xác.
- Sách nông nghiệp là sách biên soạn. Như đã nói, phần trích dẫn lấn át phần sáng tác. Một số tài liệu trong nước tâng bốc bộ sách như công trình khoa học cá nhân, điều đó không khớp với cấu trúc thật của sách.
- Cây khoai lang không phải do ông đưa vào Trung Quốc. Tên tuổi thường được ghi công là Trần Chấn Long, người đã lén mang dây khoai lang từ đảo Luzon (nay là Philippines) về và trồng ở Phúc Kiến khoảng năm 1593, và một người khác tên Trần Ích mang giống từ Việt Nam về. Công của Từ Quang Khải là học cách trồng, viết sách phổ biến và cổ vũ mở rộng, chứ ông không phải người đầu tiên có giống.
- Chương trình quân sự thất bại. Việc đúc đại bác kiểu Tây mà ông cổ vũ không cứu được nhà Minh, và trong giai đoạn đó có những vụ pháo nổ ngay trên thao trường.
- Thân phận người Công giáo gây tranh cãi. Ông bị phái cựu học và phong trào bài Công giáo đời Vạn Lịch tấn công. Chuyện ông theo đạo và chuyện ông bảo trợ cho các linh mục luôn nằm trong vùng tranh cãi, tùy người đánh giá.
Di sản vật chất
Tên của dòng họ Từ gắn với một địa danh nổi tiếng ở Thượng Hải: khu Từ Gia Hối, nơi con cháu ông tụ cư và có nhà thờ. Mộ của ông ở Thượng Hải tới nay vẫn còn và được xếp hạng di tích. Cháu gái ông, một người Công giáo được ghi tên trong các tài liệu truyền giáo, để lại một văn bản kể việc làm của dòng họ. Di sản của Từ Quang Khải vì vậy không chỉ là sách, mà còn là một dòng họ làm cầu nối giữa hai nền văn hóa trong mấy đời.
Đọc ông cho công bằng
Từ Quang Khải là người sống đúng lúc giao thời. Ông không phải người sáng tạo nên hình học hay nông học, mà là người dịch, người cổ vũ, người tổ chức, và người chịu viết thành sách. Công lao lớn nhất của ông là làm được cái việc khó nhất trong thời của ông: giữ cho hai bên, một bên là truyền thống Nho giáo và một bên là kiến thức mới từ phương Tây, cùng nói chuyện được với nhau trong một đời người. Đọc ông nên nhớ tách bạch ba lớp: người trí thức, người quan trong triều, và người tín hữu Công giáo. Ba lớp ấy chồng lên nhau và đôi khi kéo ngược nhau.
Nguồn: Wikipedia tiếng Việt — Từ Quang Khải · Minh sử — Quyển 251, Liệt truyện Từ Quang Khải · Bách khoa toàn thư Britannica — Xu Guangqi · Thư viện Quốc gia Trung Quốc — Nông chính toàn thư · Bảo tàng Thượng Hải — Mộ Từ Quang Khải và dòng họ Từ Gia Hối
Ông là người đưa hình học châu Âu vào chữ Hán, rồi dùng nửa đời còn lại để gom thành cuốn sách nông nghiệp đồ sộ nhất mà người Trung Quốc từng có.
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.