Trương Học Lương: người bắt Tưởng Giới Thạch và bị giam hơn nửa thế kỷ
Trương Học Lương: người bắt Tưởng Giới Thạch và bị giam hơn nửa thế kỷ
Trương Học Lương sống từ năm 1901 tới năm 2001, đúng một trăm năm, và bị quản thúc trong hơn năm mươi năm trong số đó. Ông là con trai cả của Trương Tác Lâm, vị đại soái cai trị vùng Đông Bắc Trung Quốc, người mà quân Nhật đã ám sát trên đường sắt năm 1928. Mười chín tuổi ông đã cầm quân, hai mươi bảy tuổi kế vị cha, và ba mươi lăm tuổi làm một việc mà nước Trung Quốc còn tranh cãi tới hôm nay: bắt cóc Tưởng Giới Thạch tại Tây An để buộc Tưởng chấm dứt nội chiến và quay sang đánh Nhật.
Thân thế, quê quán, ngày sinh ngày mất
- Sinh ngày 3 tháng 6 năm 1901 tại vùng huyện Hải Thành, phủ Phụ Tân, tỉnh Phụng Thiên — nay thuộc thành phố Hải Thành, tỉnh Liêu Ninh. Có một truyền thuyết dân gian kể ông sinh ra trên một cỗ xe la mả khi mẹ ông chạy loạn; đây là chuyện kể miệng, sử liệu không xác nhận.
- Mất ngày 15 tháng 10 năm 2001 tại Honolulu, bang Hawaii, Hoa Kỳ, hưởng tròn 100 tuổi. Ông là người sống lâu nhất trong số các nhân vật chính trị quân sự lớn của Trung Quốc cận đại, sống lâu hơn cả Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch.
- Biệt danh Thiếu soái nghĩa là đại soái trẻ, dân chúng và báo chí cả nước gọi ông như vậy cho tới cuối đời.
- Vợ: Vu Phượng Chí, cưới năm 1916 theo sự sắp đặt của cha. Còn có Triệu Nhất Địch, người theo ông vào cả chốn giam lỏng và trở thành vợ chính thức năm 1964 khi cả hai làm lễ rửa tội theo đạo Cơ đốc ở Đài Bắc.
- Gia cảnh: cha là Trương Tác Lâm, xuất thân giặc cỏ được chiêu an, trở thành người cai trị thực tế Đông Bắc với danh hiệu An Quốc quân Thượng tướng. Khối tài sản và quân đội ông thừa kế gồm nhà máy, hầm mỏ, đường sắt, cảng và hơn hai trăm nghìn quân.
Từ Thiếu soái tới người mất Đông Bắc
- Ngày 4 tháng 6 năm 1928: Trương Tác Lâm bị bom của quân Quan Đông Nhật đặt trên đường sắt tại Hoàng Cô Truân giết chết. Trương Học Lương giấu tin cái chết của cha nhiều ngày rồi mới phát tang và kế vị.
- Ngày 29 tháng 12 năm 1928: ông tuyên bố "Đông Bắc đổi cờ", treo cờ Trung Hoa Dân Quốc thay cờ năm màu của cha, quy phục chính phủ Quốc dân ở Nam Kinh. Đây là quyết định thống nhất đất nước mà không cần nổ súng.
- Năm 1929: ông gây xung đột vũ trang với Liên Xô vì tranh chấp tuyến đường sắt Đông Trung, kết cục thất bại nặng và phải nhượng bộ, làm suy yếu vị thế của ông ngay từ năm đầu cầm quyền.
- Năm 1930: trong cuộc Trung Nguyên đại chiến, ông đem quân vào Sơn Hải Quan ủng hộ Tưởng Giới Thạch, giúp Tưởng thắng phe quân phiệt miền Bắc và được thưởng chức Phó tổng tư lệnh.
- Ngày 18 tháng 9 năm 1931: quân Nhật gây sự kiện Phụng Thiên. Quân Đông Bắc của ông không kháng cự và rút đi, Nhật chiếm toàn bộ Mãn Châu trong vài tháng. Dư luận cả nước gọi ông là kẻ mất đất, ông từ chức tháng 12 năm 1931.
- Năm 1933: ông sang châu Âu một năm, từng tiếp xúc với giới cầm quyền Ý và Đức. Về nước năm 1934, Tưởng bổ nhiệm ông làm Phó tổng tư lệnh lực lượng "tiễu phỉ" ở Tây Bắc, tức đánh Hồng quân, và đặt ông ở Tây An.
- Ngày 12 tháng 12 năm 1936: cùng Dương Hổ Thành, ông cho quân tập kích nơi Tưởng Giới Thạch nghỉ ở suối nước nóng Hoa Thanh gần Lâm Đồng, bắt sống Tưởng. Ông đưa ra tám yêu sách, chủ yếu là ngừng nội chiến và lập mặt trận kháng Nhật. Chu Ân Lai đại diện Đảng Cộng sản tới Tây An đàm phán. Ngày 25 tháng 12, Tưởng được thả sau khi có bảo đảm miệng về lập mặt trận thống nhất kháng Nhật.
- Sau đó: ông nhất định đưa Tưởng bay về Nam Kinh và bị đưa ra toà án quân sự, rồi bị quản thúc. Trong hơn năm mươi năm, ông bị chuyển qua nhiều nơi: Khê Khẩu ở Chiết Giang, Quý Dương, Đài Loan với các điểm giam ở Tân Trúc và Bắc Đầu.
- Năm 1990: sau khi Tưởng Kinh Quốc mất năm 1988, ông được trả tự do thực sự ở tuổi gần chín mươi. Năm 1993, ông định cư ở Hawaii và sống ở đó tới khi qua đời.
Chỗ chính sử và truyền thuyết còn chệch nhau
- Ai ra lệnh không kháng cự năm 1931? Phía Trung Quốc đại lục từng khẳng định Tưởng Giới Thạch gửi điện buộc Trương không được đánh. Sử gia Đài Loan và nhiều hồ sơ công bố sau này lại cho thấy ông đã tự chủ động tránh giao chiến trước khi có chỉ thị dứt khoát, và bản thân ông nhiều lần nhận trách nhiệm về mình. Đây là điểm sử liệu chưa thống nhất, không nên kể như sự thật đã ngã ngũ.
- Câu chuyện tám yêu sách được truyền miệng rộng rãi như một bản tuyên ngôn cứu nước, nhưng văn bản gốc tới nay có nhiều bản được lưu truyền khác nhau và chưa lần nào được công bố đầy đủ dưới dạng hồ sơ gốc.
- Tên "người bắt Tưởng" dễ khiến người ta quên rằng quyết định bắt là của cả hai người, Trương và Dương. Sau năm 1949, Dương Hổ Thành bị Tưởng cho xử tử năm 1949 ở Trùng Khánh, còn Trương thì bị giam; bài này nêu rõ để không gộp công lao vào một người.
Những mặt hạn chế
- Mất Đông Bắc để lại hậu quả khổng lồ. Chính sách không kháng cự đã trao cho Nhật một căn cứ công nghiệp cả nước mà sau này dùng để mở rộng chiến tranh vào sâu trong lục địa. Dù hoàn cảnh có phức tạp, trách nhiệm của ông với tư cách người chỉ huy vẫn rất lớn.
- Nghiện thuốc phiện và morphine. Ông nghiện nặng từ khi còn trẻ, tới mức năm 1933 phải trải qua một đợt cai nghiện cực khổ bằng cách bị trói vào giường, có sự trợ giúp của giới y sĩ nước ngoài. Sức khoẻ tàn tạ là một lý do khiến ông cầm quân thiếu dứt khoát.
- Một hành động đơn phương. Bắt cấp trên là vi phạm kỷ luật quân đội, và chính việc ông tự đưa Tưởng về Nam Kinh cho thấy ông ý thức được điều đó. Có luồng đánh giá gọi ông là người yêu nước chịu trận, cũng có luồng gọi ông là kẻ bốc đồng phá vỡ trật tự đang cố hàn gắn.
- Xây Đông Bắc thành cơ nghiệp họ Trương. Trước năm 1928, vùng Đông Bắc vận hành gần như một nước riêng do nhà ông chi phối về thuế, đường sắt và quân đội. Tham vọng gia tộc đó là một phần nguyên nhân của cả thắng lợi lẫn tai hoạ về sau.
- Không bao giờ trở lại chính trường. Sau năm 1936, ông không có đóng góp nào thêm. Hình ảnh ông vì vậy chủ yếu do một sự kiện duy nhất trong vòng mấy chục tiếng ở Tây An định hình.
Đánh giá
Trung Quốc đại lục gọi ông là anh hùng dân tộc. Đài Loan trong nhiều thập niên coi ông là kẻ phản tướng. Cả hai đánh giá đều có cơ sở trong chính hành vi của ông: một người có lúc làm mất cả một vùng đất, và cũng có lúc làm thay đổi cục diện cả cuộc chiến chống Nhật. Ông qua đời ở Hawaii năm 2001, được chôn bên cạnh Triệu Nhất Địch; ở Los Angeles, người vợ đầu Vu Phượng Chí đã mua sẵn một ngôi mộ đôi từ trước, nhưng phần mộ đó mãi mãi bỏ trống.
Nguồn: Wikipedia tiếng Việt — Trương Học Lương · Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Trung Quốc — Sự kiện Tây An 1936 · Viện Lịch sử Cận đại Trung Quốc — Sự kiện Hoàng Cô Truân và Đông Bắc dịch xí · Bảo tàng Tưởng Giới Thạch tại Đài Loan — Hồ sơ quản thúc Trương Học Lương · Tân Hoa Xã — Trương Học Lương và mặt trận thống nhất kháng Nhật
Ông cầm quân từ năm mười chín tuổi, để mất cả vùng Đông Bắc khi mới ba mươi, và ở tuổi ba mươi lăm đã bắt cóc chính người lãnh đạo tối cao của mình trong mười ba ngày — sự kiện thay đổi cục diện Trung Quốc và tiêu luôn phần đời còn lại của ông.
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.