Trang chủ › Nhân vật lịch sử › Viên Long Bình: người đưa lúa lai Trung Quốc ra khắp thế giới
Nhân vật lịch sử

Viên Long Bình: người đưa lúa lai Trung Quốc ra khắp thế giới

BẮC KINH 1930 — TRƯỜNG SA 2021 · TỪ CÂY LÚA BẤT DỤC Ở HẢI NAM TỚI SIÊU LÚA LAI
Tượng sáp Viên Long Bình trong tư thế đứng, mặc áo sơ mi kẻ ô nhiều màu, hai tay nâng bó lúa chín, phía sau là cánh đồng lúa vàng trong một bối cảnh trưng bày ở bảo tàng.
Ảnh minh hoạ — chưa đối chiếu được nguồn ảnh

Viên Long Bình: người đưa lúa lai Trung Quốc ra khắp thế giới

Viên Long Bình sống từ ngày 7 tháng 9 năm 1930 tới ngày 22 tháng 5 năm 2021. Ông là giáo viên một trường nông nghiệp ở huyện, rồi trở thành người đầu tiên lai tạo thành công lúa lai ở Trung Quốc và được cả nước gọi là cha đẻ lúa lai. Giống lúa của ông phủ một nửa diện tích trồng lúa Trung Quốc và được trồng ở hàng chục nước. Nhưng phía sau cái tên ấy là hơn mười năm lùng một cây lúa đực bất dục, hàng nghìn lần thí nghiệm thất bại, và một vài khoản phải nói cho rõ.

Thân thế và quê quán

  • Sinh ngày 7 tháng 9 năm 1930 tại Bệnh viện Hiệp Hòa Y học ở Bắc Kinh. Ông được chính bà Lâm Xảo Trĩ, nữ bác sĩ sản khoa nổi tiếng Trung Quốc khi đó còn trẻ, đỡ đẻ.
  • Nguyên quán ở huyện Đức An, thành phố Cửu Giang, tỉnh Giang Tây.
  • Mất ngày 22 tháng 5 năm 2021 tại Bệnh viện Tương Nhã, thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, do suy đa tạng, hưởng 90 tuổi.
  • Cha là Viên Hưng Liệt, tốt nghiệp ngành văn học của Đại học Trung ương, từng làm hiệu trưởng và đốc học. Mẹ là Hoa Tĩnh, người Trấn Giang, tỉnh Giang Tô, học ở trường dòng của Anh từ nhỏ.
  • Ông là con thứ hai trong năm anh em trai, cả năm anh em đều lấy nơi sinh làm tên đệm: người anh cả sinh ở Thiên Tân, ông sinh ở Bắc Bình, các em sinh ở Giang Tây, Đức An, Hồ Nam. Vợ ông là Đặng Tắc, cưới năm 1964, hai người có ba con trai.

Tuổi thơ đi sơ tán và cậu học trò bơi giỏi

Suốt thời chiến tranh chống Nhật và nội chiến, gia đình ông sơ tán nhiều lần, khi thì ở Hán Khẩu, khi ở Lễ Huyện thuộc Hồ Nam, khi ở Trùng Khánh, khi ở Nam Kinh. Quãng thời gian dài nhất là ở Trùng Khánh, nơi ông học nhiều trường khác nhau và học được cả tiếng Hồ Nam lẫn phương ngữ Tây Nam, điều về sau giúp ông làm việc với các nhóm nghiên cứu ở Hồ Nam và Tứ Xuyên.

Năm 1947, khi học trung học ở Hán Khẩu, ông đoạt giải nhất bơi tự do cự ly 100 mét và 400 mét của thành phố, rồi huy chương bạc môn bơi của tỉnh Hồ Bắc. Năm 1949, ông đỗ vào khoa nông học của trường Tương Huy ở Trùng Khánh, học ngành di truyền và chọn giống; năm 1950, trường này sáp nhập vào Học viện Nông nghiệp Tây Nam mới lập. Năm 1952, ông đăng ký dự tuyển phi công không quân và trúng tuyển, nhưng chiến tranh Triều Tiên đã kết thúc nên ông không nhập ngũ; cùng năm, ông đi thi bơi cấp vùng và đứng thứ tư, suýt soát suất vào đội tuyển quốc gia. Năm 1953, ông tốt nghiệp Học viện Nông nghiệp Tây Nam, nay là Đại học Tây Nam.

Hơn mười năm đi tìm cây lúa đực bất dục

Sau khi tốt nghiệp, ông được phân về dạy ở Trường Nông nghiệp An Giang, huyện Kiềm Dương, miền tây Hồ Nam. Năm 1957, trong phong trào chống phần tử hữu khuynh, vì cha ông từng làm thư ký thượng tá cho tướng Phùng Ngọc Tường, ông bị xếp loại hữu khuynh vừa. Nạn đói cuối thập niên 1950 để lại vết sâu: ông kể lại đã nhìn thấy những người chết đói ngoài cổng trường, và quyết tâm đi nghiên cứu tăng sản lượng lương thực.

Tháng 7 năm 1960, ông bắt gặp trong ruộng thí nghiệm một cây lúa có đặc điểm lạ; vì lúa là cây tự thụ phấn, đời con thường giống cây mẹ, nên ông suy đoán đây là một cây lai tự nhiên và nảy ra ý tưởng tạo lúa lai. Trở ngại nằm ở chỗ hoa lúa có cả bộ phận đực lẫn cái trong cùng một bông, muốn lai thì phải tìm được cây chỉ có bộ phận cái, tức cây đực bất dục. Ngày 5 tháng 7 năm 1964, ông tìm được một cây đực bất dục tự nhiên; sang tháng 7 năm 1965, ông và cộng sự lật từng bông của hơn 14.000 bông lúa và chỉ giữ lại được 6 cây bất dục.

Tháng 2 năm 1966, tạp chí Thông báo Khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc đăng bài đầu tiên của ông, Tính bất dục đực của lúa, đúng số cuối cùng trước khi tạp chí và gần như toàn bộ tạp chí khoa học Trung Quốc phải đình bản vì Cách mạng Văn hóa. May mắn là một cán bộ của Ủy ban Khoa học Nhà nước đọc được bài ấy, và cơ quan này ra công văn buộc tỉnh Hồ Nam coi ông là đối tượng cần bảo vệ để tiếp tục nghiên cứu. Nhờ đó, trong những năm bị đấu tố vì từng nghi ngờ phép tám chữ của nông nghiệp, ruộng thí nghiệm bị nhổ bỏ, ông vẫn được quay lại làm việc. Năm 1967, nhóm nghiên cứu bất dục đực lúa do ông đứng đầu được thành lập.

Ba dòng lúa lai và mốc làm nên tên tuổi

Nhóm của ông bế tắc qua hơn ba nghìn lần thí nghiệm. Mỗi mùa đông, ông và cộng sự xuống miền nam, tới Tam Á trên đảo Hải Nam, để nhân giống; có lần họ nhét hạt lúa vào người, dùng thân nhiệt để thúc mầm. Ngày 23 tháng 11 năm 1971, hai cộng sự Lý Tất Hồ và Phùng Khắc San bắt gặp ngoài ruộng một cây lúa dại bất dục đực quý hiếm. Từ cây lúa dại này, ông chọn ra dòng bất dục nhị cửu nam số 1, rồi tới năm 1973 lần đầu ghép thành công hệ ba dòng gồm dòng bất dục, dòng duy trì và dòng phục hồi, đưa năng suất lúa từ ba trăm lên hơn năm trăm ki-lô-gam một mẫu.

  • Năm 1974: ông chọn ra tổ hợp lúa lai ưu tú đầu tiên dùng cho sản xuất đại trà, giống Nam Ưu 2, tăng hơn hai mươi phần trăm năng suất so với lúa thường.
  • Năm 1976: diện tích trình diễn đạt hai triệu mẫu; tới năm 1988, lúa lai phủ 194 triệu mẫu, chiếm 39,6 phần trăm diện tích trồng lúa cả nước.
  • Năm 1979: kỹ thuật lúa lai ba dòng là công nghệ nông nghiệp đầu tiên của Trung Quốc được giới thiệu ra nước ngoài, cụ thể là sang Mỹ.
  • Năm 1981: công trình lúa lai ba dòng nhận giải Sáng chế Đặc biệt cấp Quốc gia đầu tiên của Trung Quốc.

Từ năm 1987, ông đặt ra chiến lược chuyển lúa lai từ hệ ba dòng sang hệ hai dòng rồi tiến tới hệ một dòng. Năm 1995, lúa lai hai dòng thành công, cho năng suất cao hơn lúa ba dòng cùng thời từ năm tới mười phần trăm một mẫu. Năm 1997, ông khởi động chương trình siêu lúa lai: năm 2000 đạt mục tiêu bảy trăm ki-lô-gam một mẫu, năm 2004 đạt tám trăm. Năm 2011, giống Y Lưỡng Ưu 2 cho 926,6 ki-lô-gam một mẫu; năm 2013, giống Y Lưỡng Ưu 900 đạt 988,1 ki-lô-gam một mẫu, lập kỷ lục thế giới; năm 2016, giống Siêu Ưu 1000 đạt 1013,8 ki-lô-gam một mẫu; năm 2017 con số lên 1149,02 ki-lô-gam một mẫu. Năm 2020, trên thửa trình diễn hai vụ ở Hồ Nam, lúa lai thế hệ thứ ba đạt trung bình 1530,76 ki-lô-gam một mẫu cho cả hai vụ, phá kỷ lục thế giới.

Các giải thưởng lớn

  • Năm 1995, được phong viện sĩ Viện Hàn lâm Kỹ thuật Trung Quốc; năm 2006 là viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ.
  • Năm 2001, nhận Giải Khoa học và Công nghệ Tiền Quốc gia của Trung Quốc.
  • Năm 2004, cùng lúc nhận Giải Sói về Nông nghiệp và Giải Lương thực Thế giới.
  • Năm 2019, nhận Huân chương Cộng hòa, huân chương cao quý nhất của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Muối, cát và những chỗ cần nói rõ

Ngoài ruộng lúa thường, ông còn theo đuổi lúa chịu mặn. Năm 2017, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Lúa Nước Mặn Thanh Đảo được lập ở thành phố Thanh Đảo, do ông làm chủ nhiệm; cùng năm, đội của ông đo năng suất tại các thửa trình diễn và tiếp tục mở rộng. Năm 2018, đội của ông ở Đô Ba, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất thu hoạch lúa trồng trên cát sa mạc với năng suất hơn năm trăm ki-lô-gam một mẫu.

  • Chữ lúa nước mặn dễ gây hiểu lầm. Cây lúa này không tưới bằng nước biển nguyên chất mà bằng nước hơi mặn hoặc nước lợ pha loãng; không ít chuyên gia cho rằng tên gọi như vậy là phóng đại và hiệu quả kinh tế của nó chưa được chứng minh vững. Cần phân biệt thiên hướng truyền thông với kết quả đã được kiểm định.
  • Lập trường về lúa biến đổi gen. Năm 2014, khi ông nói rằng thực phẩm biến đổi gen là hướng đi tương lai của lương thực và cho biết mình đang nghiên cứu hướng đó, ông nhận nhiều ý kiến trái chiều.
  • Cái tên cha đẻ lúa lai. Cách gọi ấy gói cả một tập thể vào một người. Lý Tất Hồ, người tìm ra cây lúa dại bất dục ở Hải Nam, và nhiều cộng sự khác có vai trò mà báo chí phổ thông ít nhắc. Kỹ thuật lúa lai trên thế giới, trong đó có công trình của Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế, cũng là nền tảng chung mà nhóm của ông kế thừa.
  • Vai trò chính trị. Ông từng là phó chủ tịch Ủy ban Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân tỉnh Hồ Nam và giữ nhiều chức vụ đại biểu, nên một phần hình ảnh của ông gắn với bộ máy nhà nước.

Vì sao vẫn nhớ ông

Cái để lại của Viên Long Bình không chỉ là những con số năng suất. Ông là bằng chứng cho một điều đơn giản: một giáo viên trường huyện, bị xếp loại hữu khuynh, làm việc trong thời loạn, vẫn có thể thay đổi bữa ăn của cả một quốc gia nếu theo đuổi một bài toán đến cùng. Trong lễ trao Giải Lương thực Thế giới năm 2004, ông được nhắc tới như người đã giúp nuôi thêm hàng chục triệu người mỗi năm.

Ông qua đời ngày 22 tháng 5 năm 2021 tại Trường Sa. Dù trước đó ông xin lo hậu sự đơn giản, hàng vạn người dân vẫn tự tới Bệnh viện Tương Nhã và nhà tang lễ Minh Dương Sơn để tiễn ông, và cảnh sát Trung Quốc cho biết có bảy người bị xử lý vì có lời lẽ xúc phạm ông. Đọc tiểu sử ông cho công bằng thì nên nhớ ba điều: kết quả lớn là công sức của cả một tập thể, thành tựu phải tách khỏi phần thổi phồng của truyền thông, và phần con người ông vẫn còn những chỗ chưa thống nhất giữa các nguồn.

Nguồn: Wikipedia tiếng Trung — Viên Long Bình · Wikipedia tiếng Anh — Yuan Longping · Quỹ Giải thưởng Lương thực Thế giới — Yuan Longping, giải thưởng năm 2004 · Tân Hoa Xã — Viên Long Bình và lúa lai · Nhật báo Nhân dân — Tiểu sử Viên Long Bình

Ông là giáo viên một trường huyện, suýt bị gạt khỏi nghiên cứu, và mất hơn mười năm chỉ để tìm một cây lúa đực bất dục. Giống lúa lai của ông sau này phủ một nửa diện tích trồng lúa Trung Quốc.
Thấy hữu ích?
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.
Theo dõi Page