Trang chủ › Nhân vật lịch sử › Trịnh Hòa: thái giám dẫn bảy hạm đội ra Ấn Độ Dương
Nhân vật lịch sử

Trịnh Hòa: thái giám dẫn bảy hạm đội ra Ấn Độ Dương

CÔN DƯƠNG 1371 — ẤN ĐỘ DƯƠNG KHOẢNG 1433 · BẢY CHUYẾN HẢI HÀNH CỦA NHÀ MINH
Mô hình hạm đội báu vật nhà Minh trong bảo tàng ở Malacca: hàng chục thuyền gỗ nhiều buồm nâu và đen bày trên nền nước xanh, mũi thuyền sơn đỏ có chấm trắng, phía sau là tranh vẽ biển rộng và núi xanh
Ảnh minh hoạ — chưa đối chiếu được nguồn ảnh

Trịnh Hòa: thái giám dẫn bảy hạm đội ra Ấn Độ Dương

Ông là một cậu bé người Hồi ở Vân Nam bị quân Minh bắt, bị thiến rồi đưa vào cung làm người hầu. Ba mươi năm sau, chính ông là người chỉ huy bảy hạm đội lớn nhất mà châu Á từng thấy, đi từ Biển Đông qua Ấn Độ Dương tới tận bờ biển Ả Rập và Đông Phi. Tên ông là Trịnh Hòa, và câu chuyện của ông vừa là một trong những trang huy hoàng nhất của hàng hải Trung Quốc, vừa là một bài học về việc vì sao nước Minh rồi lại quay lưng với biển cả.

Thân thế, quê quán và cái tên

  • Sinh năm 1371 tại Côn Dương (Kunyang), phủ Tấn Ninh, tỉnh Vân Nam, nay thuộc địa giới thành phố Côn Minh. Tên gốc của ông là Mã Hòa, thường được gọi là Mã Tam Bảo.
  • Ông xuất thân từ một gia đình người Hồi theo Hồi giáo. Nhiều đời trước, dòng họ ông có gốc gác Trung Á và Ba Tư: cụ tổ xa là Sayyid Ajjal Shams al-Din Omar, một vị quan lớn phục vụ nhà Nguyên và từng giữ chức tổng đốc Vân Nam. Cha ông là Mã Cáp Chỉ, và cả cha lẫn ông nội đều đã từng đi hành hương tới thánh địa Mecca, nên mới mang danh xưng Cáp Chỉ nghĩa là người đã hoàn thành cuộc hành hương ấy.
  • Năm 1381, quân Minh tràn vào đánh chiếm Vân Nam khi đó còn do một vương công nhà Nguyên cai quản. Cha ông chết trong cuộc chiến. Cậu bé Mã Hòa bị quân Minh bắt làm tù binh, bị thiến và đưa vào phục vụ trong cung. Đây là số phận chung của rất nhiều trẻ em tù binh bị bắt ở biên giới phía nam thời ấy, và sử sách không ghi lại chi tiết những năm tháng đó.
  • Ông được giao hầu trong phủ của Chu Đệ, tức Yên vương, con trai thứ tư của Hoàng đế Hồng Vũ và là người kém ông mười một tuổi. Chính trong phủ này ông lớn lên, học binh pháp và trở thành người tin cẩn của chủ.
  • Trong cuộc nội chiến Tĩnh Nan từ 1399 tới 1402, ông đứng về phe Chu Đệ chống lại hoàng đế Kiến Văn. Khi Chu Đệ lên ngôi, lấy hiệu là Vĩnh Lạc, ông được phong làm đại thái giám và được ban họ Trịnh. Từ đây Mã Hòa trở thành Trịnh Hòa.
  • Mô tả ngoại hình trong sử liệu: ông được chép là cao bảy thước, vòng bụng năm thước, trán và gò má cao, mũi nhỏ, mắt sắc, răng trắng đều, giọng nói to như tiếng chuông. Sử cũng ghi ông am hiểu chiến trận. Cần lưu ý các con số này là cách ghi mang tính ước lệ của sử quan, không phải số đo y khoa.

Vì sao nhà Minh phái hạm đội ra biển

Từ năm 1405 tới 1433, triều đình nhà Minh tổ chức bảy chuyến hải hành quy mô lớn dưới danh nghĩa Trịnh Hòa. Giới nghiên cứu tới nay vẫn tranh luận về mục đích thật sự, và thường nêu cùng lúc mấy lý do: mở rộng hệ thống triều cống với các nước ven Ấn Độ Dương, phô trương uy thế của nhà Minh sau khi Vĩnh Lạc vừa đoạt ngôi, kiểm soát các tuyến thương mại hàng hải, và một giả thuyết được nhắc nhiều nhưng không có bằng chứng dứt khoát là truy tìm hoàng đế Kiến Văn còn sống sót sau khi kinh thành Nam Kinh thất thủ. Điều chắc chắn là đây không phải một dự án thương mại thuần tuý; nó là công cụ chính trị và ngoại giao.

Bảy chuyến hải hành, 1405 tới 1433

  • Chuyến thứ nhất, 1405 tới 1407: xuất phát từ Nam Kinh và vùng cửa sông Dương Tử, qua Đông Nam Á tới Java, Sumatra, Malacca, Sri Lanka và Calicut trên bờ tây Ấn Độ. Ở Cự Cảng (Palembang), hạm đội tiêu diệt và bắt sống nhóm cướp biển của Trần Tổ Nghĩa, được coi là một trong những thành công quân sự rõ rệt nhất của ông.
  • Chuyến thứ hai, 1407 tới 1409: đi lại các nước đã qua, trong đó có việc phong vương cho người đứng đầu Malacca, gắn thương cảng then chốt này với nhà Minh.
  • Chuyến thứ ba, 1409 tới 1411: tới Ceylon (Sri Lanka), nơi xảy ra xung đột với vua Vira Alakesvara; ông bị chép bắt vị vua này đưa về Nam Kinh.
  • Chuyến thứ tư, 1413 tới 1415: đi xa hơn về phía tây, tới vịnh Ba Tư và Hormuz, đồng thời chạm tới bờ biển Đông Phi. Sau chuyến này, hạm đội mang về trình Vĩnh Lạc những con hươu cao cổ và động vật lạ, được triều đình diễn giải như điềm lành.
  • Chuyến thứ năm, 1417 tới 1419: tới các cảng ven bán đảo Ả Rập và vùng Đông Phi như Mogadishu, Malindi, Mombasa, đưa các sứ thần nước ngoài về triều.
  • Chuyến thứ sáu, 1421 tới 1422: diễn ra trong lúc kinh đô bắt đầu chuyển dần về Bắc Kinh và triều đình ngày càng tốn kém cho các công trình lớn.
  • Chuyến thứ bảy, 1431 tới 1433: do vua Tuyên Đức sai đi sau một thời gian hải hành bị đình chỉ, tới tận vùng Biển Đỏ và bờ biển phía đông châu Phi, rồi đưa một đoàn sứ thần nước ngoài về Nam Kinh. Đây là chuyến cuối cùng.

Người ghi chép quan trọng nhất của các chuyến đi là Mã Hoan, thông dịch viên và thư ký của đoàn, tác giả cuốn Doanh nhai thắng lãm mô tả khá chi tiết hơn hai mươi xứ sở mà đoàn đã tới. Đó là một trong những nguồn tư liệu chữ viết đáng tin nhất về các chuyến hải hành này.

Hạm đội và những con số gây tranh cãi

  • Quy mô: các nguồn phổ thông thường ghi chuyến đầu có hàng trăm tàu và gần ba mươi nghìn người, với con số cụ thể hay được nhắc là 317 chiếc và 27.800 người. Cần nói thẳng con số này chủ yếu dựa trên các ghi chép muộn và bị nhiều nhà nghiên cứu cho là phóng đại.
  • Tàu báu vật (bảo thuyền): sử chép loại lớn nhất dài 44,4 trượng và rộng 18 trượng, quy đổi thô ra khoảng 127 mét, được ví như dài gần gấp đôi tàu gỗ lớn nhất từng được ghi nhận ở phương Tây. Đây là điểm tranh cãi lớn: nhiều chuyên gia hải quân cho rằng phép quy đổi đơn vị trượng bị sai, hoặc con số ấy dùng cho loại tàu chỉ chạy trong sông Dương Tử, chứ không phải tàu vượt đại dương. Một số học giả tính lại thấy tàu báu vật thực tế có thể chỉ vào khoảng 50 tới 70 mét.
  • Thành phần đoàn: không chỉ lính và thuỷ thủ mà còn có hoa tiêu, thầy thuốc, thợ mộc, thợ rèn, thông dịch và cả người ghi chép. Đây là một thành phố nổi di động hơn là một đội quân.
  • Điều hướng: nghề hàng hải Trung Quốc thời đó đã dùng la bàn và các sách hướng dẫn tên là châm kinh, ghi từng điểm phương hướng, thời gian chạy và độ sâu mực nước, chứ không vẽ bản đồ theo kiểu tỷ lệ như phương Tây. Bản đồ hàng hải cổ còn lại tới nay, gọi là đồ biển Mao Khôn, là một tài liệu quý của nghề đi biển nhà Minh.

Những mặt hạn chế ít được nhắc

  • Không phải thương mại sinh lời mà là ngoại giao tiêu tốn. Mô hình chính là triều cống: các nước dâng lễ vật, triều đình ban thưởng lại giá trị lớn hơn nhiều lần. Cách trao đổi này mua uy tín chính trị bằng tiền ngân khố, chứ không tạo ra nguồn thu bền vững.
  • Các chuyến đi bị đình chỉ và hồ sơ bị xoá gần như sạch. Vĩnh Lạc mất năm 1424, vua Hồng Hi kế vị cho dừng hải hành. Vua Tuyên Đức cho làm lại một chuyến nữa rồi chấm dứt hẳn. Sau đó giới quan lại Nho giáo coi các chuyến đi là lãng phí, và phần lớn tài liệu, bản vẽ đóng tàu bị thất lạc hoặc bị tiêu huỷ. Chính vì thế ngày nay ta biết về hạm đội ấy phần nhiều qua ghi chép rời rạc và suy đoán.
  • Không lập thuộc địa, không duy trì hiện diện. Khác với các cường quốc châu Âu vài chục năm sau, nhà Minh không để lại đồn trú, thương điếm hay hệ thống quản trị ở những nơi hạm đội đi qua. Khi tàu về nước, ảnh hưởng cũng tan dần. Những cam kết triều cống không biến thành quan hệ chặt chẽ lâu dài.
  • Hệ quả về sau là bế quan toả cảng. Sau khi hải hành chấm dứt, nhà Minh siết lệnh cấm biển, hạn chế thương mại tư nhân, về lâu dài khiến Trung Quốc mất thế chủ động trên biển và tạo khoảng trống cho thương nhân và hải quân châu Âu tràn vào Ấn Độ Dương và Đông Nam Á.
  • Ông là người thực thi, không phải người hoạch định chính sách. Uy quyền của Trịnh Hòa đến trực tiếp từ Vĩnh Lạc. Sau khi người bảo trợ mất, không một thái giám nào có đủ vị thế để duy trì công việc ấy. Nói cho công bằng: thành công của ông gắn chặt với một ông vua, và cũng lụi tàn cùng triều đại của ông vua đó.
  • Tính chất trình diễn sức mạnh chiếm phần lớn. Các chuyến đi đưa về voi, hươu cao cổ, ngọc quý, hương liệu để phô trương; phần trao đổi kinh tế lâu dài còn mờ nhạt. Bởi vậy đánh giá Trịnh Hòa như một nhà thám hiểm mở đường cho toàn cầu hoá là gán cho ông một ý nghĩa mà chính sách nhà Minh không hề nhắm tới.

Ông mất ở đâu

Sử chính thống của nhà Minh hầu như không ghi rõ cái chết của Trịnh Hòa. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ông mất năm 1433, trong hoặc ngay sau chuyến thứ bảy, có thể tại Calicut trên bờ tây Ấn Độ, và một số nguồn khác lại ghi ông mất khoảng năm 1435. Tại Nam Kinh, dưới chân núi Ngưu Đầu Sơn, có một ngôi mộ mang tên ông, nhưng đây được coi là mộ tưởng, chỉ chôn áo mũ và vật dụng cá nhân. Theo phần lớn tài liệu, thi hài ông được hoả táng và rải xuống biển ngoài khơi bờ biển Malabar, gần Calicut. Ngôi mộ Nam Kinh đã được tu sửa và xây lại theo kiến trúc Hồi giáo vào năm 1985, và bên cạnh có một bảo tàng nhỏ.

Vì sao vẫn nhớ ông

Giá trị của Trịnh Hòa không nằm ở con số tàu hay chiều dài tàu, mà ở chỗ ông đã đưa một lực lượng Trung Quốc đi xa hơn bất cứ ai trước đó, tới tận những bờ biển mà chưa từng có sử quan Trung Hoa nào đặt chân. Bảy chuyến đi ấy chứng minh năng lực hàng hải khổng lồ của nhà Minh ở đầu thế kỷ mười lăm, trước khi châu Âu bắt đầu kỷ nguyên khám phá. Nhưng chúng cũng chứng minh một điều ngược lại: năng lực mà không gắn với lợi ích và thể chế bền vững thì có thể bị chính triều đình đã tạo ra nó xoá sạch chỉ trong vài thập niên.

Đọc về ông cho công bằng, nên nhớ ba điều. Thứ nhất, con số tàu báu vật khổng lồ là sử liệu còn tranh cãi, không nên lặp lại như chân lý. Thứ hai, các chuyến hải hành là chính sách triều cống chứ không phải thương mại, nên đừng lấy tiêu chuẩn của công ty Đông Ấn để đánh giá. Thứ ba, Trịnh Hòa là một thái giám tài năng trong guồng máy cung đình, và tấm gương của ông vừa sáng vừa gắn chặt vào một cỗ máy quyền lực có thể bị tháo gỡ bất cứ lúc nào.

Nguồn: Wikipedia tiếng Việt — Trịnh Hòa · Bách khoa toàn thư Britannica — Zheng He · Nhà xuất bản Đại học Oxford — When China Ruled the Seas của Louise Levathes · Bảo tàng Văn hoá Trịnh Hòa ở Malacca — Trưng bày hạm đội nhà Minh · Thông tấn xã Tân Hoa Xã — Bảy chuyến hải hành của Trịnh Hòa

Ông là một cậu bé người Hồi ở Vân Nam bị quân Minh bắt và thiến, rồi ba mươi năm sau chính ông chỉ huy bảy hạm đội lớn nhất châu Á từng thấy, đi từ Biển Đông tới tận bờ biển Ả Rập và Đông Phi.
Thấy hữu ích?
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.
Theo dõi Page