Trang chủ › Nhân vật lịch sử › Tiền Học Sâm: nhà khoa học bị Mỹ giam lỏng năm năm rồi về dựng ngành tên lửa
Nhân vật lịch sử

Tiền Học Sâm: nhà khoa học bị Mỹ giam lỏng năm năm rồi về dựng ngành tên lửa

THƯỢNG HẢI 1911 — BẮC KINH 2009 · CALTECH, ĐẢO TERMINAL VÀ NGÀY 17 THÁNG 9 NĂM 1955
Ảnh đen trắng chụp tại một cuộc điều trần: năm người ngồi và đứng quanh một chiếc bàn dài, người đàn ông trung niên mặc vest ngồi giữa là Tiền Học Sâm, hai bên là luật sư và viên chức Mỹ, trên bàn la liệt giấy tờ, sau lưng có lá cờ Mỹ.
Ảnh minh hoạ — chưa đối chiếu được nguồn ảnh

Tiền Học Sâm: nhà khoa học bị Mỹ giam lỏng năm năm rồi về dựng ngành tên lửa

Tiền Học Sâm sống từ ngày 11 tháng 12 năm 1911 tới ngày 31 tháng 10 năm 2009. Ông là một trong những chuyên gia hàng đầu về tên lửa và dòng chảy siêu thanh của nước Mỹ, đồng thời là người đồng sáng lập Phòng Thí nghiệm Sức đẩy Phản lực của Viện Công nghệ California, cơ quan về sau thuộc Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ. Rồi chính quyền Mỹ tước quyền làm việc bí mật của ông, quản thúc ông gần năm năm và cuối cùng trục xuất ông về Trung Quốc. Về nước, ông trở thành người được gọi là cha đẻ tên lửa Trung Quốc. Bài này kể cả phần hào quang lẫn những vết mờ ít khi được nhắc.

Thân thế và quê quán

  • Sinh ngày 11 tháng 12 năm 1911 tại Thượng Hải, trong khu tô giới quốc tế; nguyên quán ở huyện Nhân Hòa, phủ Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, nay thuộc thành phố Hàng Châu.
  • Mất ngày 31 tháng 10 năm 2009 tại Bắc Kinh, hưởng 97 tuổi.
  • Ông thuộc dòng họ Tiền ở vùng Ngô Việt, tự nhận là cháu đời thứ ba mươi ba của Tiền Lưu, vua nước Ngô Việt thời Ngũ Đại.
  • Cha là Tiền Gia Trị, một nhà giáo dục và chuyên gia văn sử. Năm 1914, cha ông vào làm ở Bộ Giáo dục, cả nhà dời ra Bắc Kinh.
  • Vợ ông là bà Tưởng Anh, một ca sĩ nổi tiếng, con gái thứ ba của nhà quân sự Tưởng Bách Lý. Hai người cưới năm 1947 và có hai con là Tiền Vĩnh Cương và Tiền Vĩnh Chân. Nhà văn Kim Dung là anh em họ bên vợ của ông.

Từ Thượng Hải sang Caltech

Năm 1929, ông vào khoa cơ khí của trường Giao thông Quốc lập, học chuyên ngành đầu máy hơi nước và tốt nghiệp năm 1934. Năm 1935, ông nằm trong hai mươi người được chọn đi Mỹ bằng tiền bồi thường Canh Tý, rời Thượng Hải trên chiếc tàu Tổng thống Jackson. Năm 1936, ông lấy bằng thạc sĩ ngành kỹ thuật hàng không ở Viện Công nghệ Massachusetts, rồi tìm gặp giáo sư Tây Áo Đa Phùng Khải Môn, người được xem là cha của ngành khí động học hiện đại, để xin theo học. Ông vào Viện Công nghệ California năm 1936 và lấy bằng tiến sĩ ngành hàng không và toán học năm 1939.

Năm 1939, bài báo về dòng chảy cận âm hai chiều của ông đưa ra một công thức hiệu chỉnh áp suất mà giới chuyên môn gọi là phương trình Khải Môn – Tiền. Năm 1943, ông làm phó giáo sư ở Caltech và phụ trách nhóm nghiên cứu động cơ phản lực của trường, một nhóm gắn với sự ra đời của Phòng Thí nghiệm Sức đẩy Phản lực. Năm 1945, Bộ Chiến tranh Mỹ cử một đoàn sang Đức do Phùng Khải Môn dẫn đầu, trong đó có ông, để thẩm vấn các nhà khoa học tên lửa Đức; chính ông hỏi chuyện Véc-nơ Phôn Brao và nhận được một bản báo cáo viết tay. Năm 1947, ông là giáo sư chính thức ở Viện Công nghệ Massachusetts, và đến năm 1949 là giáo sư chính thức ở Caltech, kiêm giám đốc Trung tâm Sức đẩy Phản lực Guggenheim. Năm đó ông công bố một thiết kế máy bay tên lửa siêu thanh, về sau gọi là quỹ đạo Tiền Học Sâm.

Gần năm năm bị giữ ở Mỹ

Thời kỳ Chiến tranh Lạnh thứ hai, Cục Điều tra Liên bang Mỹ soi vào các cuộc gặp gỡ xã giao thời trẻ của ông và cáo buộc ông có cảm tình với cộng sản. Tháng 6 năm 1950, ông bị thu hồi quyền tham gia các công việc bí mật, dù không có bằng chứng. Ông xin về thăm Trung Quốc; Hải quân Mỹ phản đối. Ngày 30 tháng 8 năm 1950, Bộ Tư pháp Mỹ đưa ông vào trại tạm giam đảo Terminal trong mười lăm ngày, với lý do ông khai không đầy đủ khi làm thủ tục nhập quốc tịch. Caltech phản đối và đóng tiền bảo lãnh 15.000 đô la cho ông.

Ông thuê luật sư riêng là ông Grant Cooper ở New York và theo đuổi vụ kiện với cơ quan nhập cư suốt năm năm. Ngày 26 tháng 4 năm 1951, ông bị cấm rời khỏi hạt Los Angeles. Từ đó ông sống trong tình trạng gần như bị giam lỏng tại nhà, chỉ được giảng dạy mà không được làm nghiên cứu mật. Trong những năm ấy, ông viết cuốn sách Điều khiển học trong kỹ thuật, xuất bản năm 1954, một tác phẩm mở ra ngành mà về sau giới kỹ sư Trung Quốc xem là gốc rễ của hệ thống điều khiển hiện đại. Ông từng nói nửa đùa nửa thật rằng, nếu họ không cho ông làm nghiên cứu, thì ông sẽ phát triển công việc bằng những ngón tay của mình.

Cần nói rõ một chỗ. Nhiều bản kể tóm tắt viết ông bị nước Mỹ giữ ba năm, nhưng mốc thời gian đầy đủ kéo dài từ tháng 8 năm 1950 tới ngày 4 tháng 8 năm 1955, tức khoảng năm năm. Phía Mỹ tính rằng sau năm năm, khối kiến thức mật ông nắm đã lạc hậu và không còn giá trị. Năm 1955, trong các cuộc đàm phán ở Geneva, hai nước trao đổi công dân. Ngày 4 tháng 8 năm 1955, Cơ quan Nhập cư và Nhập tịch Mỹ ký giấy cho ông rời đi, và theo lời kể phổ biến, việc này gắn với số mười một phi công Mỹ bị Trung Quốc giữ từ sau Chiến tranh Triều Tiên. Ngày 17 tháng 9 năm 1955, ông cùng vợ và hai con nhỏ lên tàu Tổng thống Cleveland. Viện trưởng Caltech khi đó nói một câu được nhớ mãi: Tiền Học Sâm về nước không phải để đi trồng cây táo.

Về nước và dựng ngành tên lửa

Ngày 8 tháng 10 năm 1955, gia đình ông tới Hồng Kông rồi qua Thâm Quyến, sau đó về Quảng Châu và tới Bắc Kinh ngày 28 tháng 10. Từ tháng 10 tới tháng 12 năm 1955, ông đi thăm các viện nghiên cứu, trường đại học và nhà máy ở Bắc Kinh và vùng Đông Bắc để nắm xem cơ sở nào có thể dùng cho ngành hàng không. Ngày 1 tháng 1 năm 1956, khi giảng cho các tướng lĩnh của Quân Giải phóng Nhân dân, ông viết ba chữ quân tên lửa lên bảng. Ngày 17 tháng 2 năm 1956, ông soạn bản kiến nghị xây dựng ngành hàng không quốc phòng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai, và nhiều người xem bản này là đề cương chỉ đạo chương trình tên lửa của Trung Quốc.

Cùng năm 1956, ông cùng Tiền Vĩ Trường và Quách Vĩnh Hoài lập Viện Cơ học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và làm viện trưởng đầu tiên. Ngày 8 tháng 10 năm 1956, Viện Nghiên cứu thứ Năm thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan chuyên làm tên lửa đầu tiên của Trung Quốc, ra đời; năm 1957, Chu Ân Lai ký lệnh bổ nhiệm ông làm viện trưởng. Năm 1958, ông tham gia đề xướng và lập Đại học Khoa học và Kỹ thuật Trung Quốc. Cũng năm 1958, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1960, tên lửa đạn đạo tầm ngắn Đông Phong 1 phóng thành công. Các dòng Đông Phong 2, Đông Phong 3, Đông Phong 4 và Đông Phong 5 lần lượt được triển khai, và ngày 24 tháng 4 năm 1970, vệ tinh đầu tiên của Trung Quốc là Đông Phương Hồng 1 được phóng lên quỹ đạo.

Vì những đóng góp ấy, ông được gọi là cha đẻ tên lửa Trung Quốc, và năm 1999 được nhà nước Trung Quốc phong danh hiệu nguyên huân của công trình hai quả bom một vệ tinh. Ông còn là ủy viên Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc từ năm 1957 và giữ chức phó chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc các khóa sáu, bảy, tám, từ năm 1987 tới năm 1998.

Những vết mờ và tranh cãi

  • Bài báo về năng suất lúa năm 1958. Trong phong trào Đại nhảy vọt, tờ báo Trung Quốc Thanh niên tập hợp bài nói của ông và bài ông đăng trên tạp chí Kiến thức là Sức mạnh với nhan đề Vấn đề cơ học trong nông nghiệp, biến thành bài Sản lượng lúa mỗi mẫu sẽ là bao nhiêu. Ông lập luận theo năng lượng mặt trời rằng, về lý thuyết, năng suất có thể lên tới hơn hai mươi lần mức hai nghìn cân mỗi mẫu. Nhiều người xem đó là chỗ dựa khoa học cho việc báo cáo sản lượng thổi phồng. Theo hồi ký của Lý Nhuệ, người thư ký của Mao Trạch Đông từng hỏi Mao rằng làm gì có chuyện mỗi mẫu một vạn cân, và Mao trả lời rằng ông tin điều đó sau khi đọc bài của nhà khoa học lớn Tiền Học Sâm. Về sau, ông giải thích con số ông đưa ra là giới hạn lý thuyết, muốn đạt tới phải giải quyết hàng loạt điều kiện.
  • Ủng hộ nghiên cứu công năng đặc biệt. Từ năm 1980, ông công khai ủng hộ việc nghiên cứu các hiện tượng dị thường của con người và khí công, và tranh luận gay gắt với những người phản đối như Vu Quang Viễn. Năm 1983, ông đặt ra khái niệm khoa học con người. Đây là một chương gây nhiều ý kiến trái chiều trong di sản của ông.
  • Cáo buộc gián điệp. Năm 1999, báo cáo Cox của Quốc hội Mỹ có một mục nói ông là gián điệp. Người viết tiểu sử ông là Trương Thuần Như đã bác bỏ cáo buộc này.
  • Nhân vật chính trị. Ông là đảng viên cộng sản và giữ chức vụ cấp phó quốc gia. Đọc ông cho công bằng thì nên tách phần nhà khoa học khỏi phần chính trị gia, và nhớ rằng nhiều kết quả được gán cho cá nhân ông thực ra là công trình của cả một tập thể kỹ sư và công nhân.

Vì sao vẫn nhớ ông

Điều còn lại lớn nhất của Tiền Học Sâm có lẽ không nằm ở một quả tên lửa cụ thể, mà ở cách ông đưa tư duy hệ thống vào những việc rất lớn. Ông là người đặt nền cho phương pháp luận hệ thống phức hợp, biến kinh nghiệm làm chương trình không gian thành cách tổ chức và ra quyết định cho các dự án quốc gia. Năm 2005, khi đã rất già, ông đặt câu hỏi mà báo chí Trung Quốc gọi là câu hỏi của Tiền Học Sâm: vì sao trường học Trung Quốc mãi không sinh ra được những người tài đỉnh cao. Câu hỏi ấy tới nay vẫn chưa có lời đáp trọn vẹn.

Đọc tiểu sử ông cho công bằng thì nên nhớ ba điều: ông là một kỹ sư và nhà khoa học thật sự xuất sắc của thế kỷ hai mươi; bi kịch của ông ở nước Mỹ là một vết nhơ của thời kỳ McCarthy, khi người ta đánh mất một tài năng vì nghi ngờ chứ không vì bằng chứng; và phần con người ông cũng có những sai lầm, trong đó có những phát biểu khoa học mà chính ông về sau phải giải thích lại.

Nguồn: Wikipedia tiếng Trung — Tiền Học Sâm · Wikipedia tiếng Anh — Qian Xuesen · BBC News — Người đàn ông bị nước Mỹ trục xuất · Viện Công nghệ California — Hồ sơ Tiền Học Sâm tại Phòng Thí nghiệm Sức đẩy Phản lực · Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế — Chiến dịch ngoại giao giải cứu nhà khoa học Tiền Học Sâm

Ông từng là một trong những chuyên gia tên lửa hàng đầu nước Mỹ, rồi bị tước quyền an ninh, bị quản thúc gần năm năm và chỉ được rời đi khi hai nước trao đổi tù binh. Về nước, ông dựng nên cả ngành tên lửa Trung Quốc.
Thấy hữu ích?
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.
Theo dõi Page