Huyền Trang
Huyền Trang: mười bảy năm đi, một bộ sách về những nước chưa từng qua
Huyền Trang sống từ năm 602 tới năm 664, là nhà sư thời Đường. Ông rời Trường An đi sang phía tây tìm kinh Phật, ở ngoài mười bảy năm, rồi về dạy và dịch kinh cho tới lúc mất. Phần lớn những gì người đời sau biết về các nước ông đã qua đều nằm trong bộ sách do ông kể lại.
Vì sao ông đi
Theo truyện về Huyền Trang trong Cựu Đường thư, và theo phần dẫn của bộ Đại Đường Tây Vực ký, lý do ông lên đường là các bản kinh thời đó giảng giải khác nhau, người học không biết bản nào chuẩn. Các nguồn không khớp nhau về năm khởi hành: bản dẫn do Biện Cơ viết cho bộ sách ghi Trinh Quán năm thứ ba, tức năm 629, và bản giới thiệu của cơ quan thông tin nhà nước Trung Quốc cũng ghi năm 629; một số bảng niên biểu của giới nghiên cứu ghi năm 627. Chênh hai năm ở văn bản cổ là chuyện thường gặp, và cần nói rõ mình đang theo nguồn nào.
Ông đi theo tuyến Tây Vực, qua vùng nay là Tân Cương, rồi sang Trung Á và xuống Ấn Độ, học ở các trung tâm Phật giáo lớn. Không có đoàn sứ bảo trợ. Theo các bản niên biểu về ông do giới nghiên cứu dựng lại, có lúc ông bị chặn ở biên giới vì triều đình cấm dân ra ngoài nên phải đi lén, và ở Ấn Độ ông học nhiều năm tại trung tâm Phật giáo lớn ở vùng đông bắc.
Về tới Trường An
Năm 645, ông về tới Trường An, mang theo một khối lượng lớn kinh và tượng. Theo phần dẫn của Đại Đường Tây Vực ký, vua Đường Thái Tông cho gọi ông tới Lạc Dương, nghe kể về các nước và ra lệnh cho ông chép lại những điều đã thấy.
Bản chép đó thành sách năm 646, nhan đề Đại Đường Tây Vực ký, gồm mười hai quyển, do ông kể và sư Biện Cơ chấp bút. Theo tổng thuật về bộ sách, đây là tập ký sự về hơn một trăm bốn mươi nước và vùng đất, từ vùng nay là Tân Cương xuống tới nam Ấn Độ. Sách ghi về các nước và vùng đất ông đi qua, từ Tân Cương tới nam Ấn Độ, với địa hình, sản vật, chùa tháp, tăng ni, tập tục, có chỗ ghi thêm chú về cách đọc tên. Phần lớn các nước trong sách không được chép trong phần Tây Vực liệt truyện của sách sử nhà Đường — lý do, theo bản dẫn của sách, là sử chỉ chép nước có triều cống, còn sách của ông chép nơi ông từng qua.
Tháp Đại Nhạn và việc dịch kinh
Năm 652, theo đề nghị của ông, chùa Đại Từ Ân ở Trường An dựng tháp Đại Nhạn để cất kinh và tượng mang về; tháp ban đầu năm tầng, qua các lần tu sửa và xây lại đời Võ Chu thành tháp gạch bảy tầng như ngày nay. Ngày 4 tháng 3 năm 1961, tháp được xếp vào danh mục di tích trọng điểm quốc gia đợt một, và theo hồ sơ của UNESCO, năm 2014 tháp nằm trong tuyến di sản thế giới "Con đường Tơ lụa: mạng lưới Trường An - Thiên Sơn" được ghi danh.
Phần cuối đời ông là dịch thuật. Ông dựng một ban dịch tại chùa, chia người phụ trách ghi chép, tra chữ, đối chiếu bản gốc, và dịch một số lượng kinh lớn từ tiếng Phạn sang tiếng Hán. Nếu không có chuyến đi kia thì chuyện dịch kinh Hán ngữ sẽ khác hẳn, vì lượng bản gốc mang về đã thay đổi mặt bằng những gì người Trung Quốc đọc được.
Nơi người Việt gặp ông
Với người Việt, Huyền Trang quen thuộc qua hình ảnh trong Tây du ký — một bản kể hoàn toàn khác, có yêu quái và có thầy trò. Nhưng nhân vật thật trong sách sử là một người đi đường bộ mười bảy năm, về chép lại địa lý và tập tục của các nước từng qua, và dành ba mươi năm còn lại của đời cho việc chuyển ngữ.
Bạn nhớ Huyền Trang từ Tây du ký hay từ mấy dòng về chuyến đi trong sách sử, và bạn thích con người nào hơn?
Nguồn: Cựu Đường thư – 方伎 (chép về 僧玄奘, bản ctext.org); Đại Đường Tây Vực ký (Biện Cơ) – 大唐西域記 (bản ctext.org); UNESCO – Silk Roads: About the Silk Roads (nhắc hành trình Huyền Trang 629–654)
Năm 652, theo đề nghị của ông, chùa Đại Từ Ân ở Trường An dựng tháp Đại Nhạn để cất kinh và tượng mang từ Ấn Độ về. Tháp cao bảy tầng như ngày nay.
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.