Hàn Dũ
Hàn Dũ: người dám dâng thư can vua rồi bị đày xuống miền nam
Hàn Dũ sinh năm 768, mất ngày 25 tháng 12 năm 824, người Hà Dương, vùng nay thuộc tỉnh Hà Nam, tự Thoái Chi. Ông sống đời Đường, làm quan tới chức thị lang bộ Lại nên người đời còn gọi là Hàn Lại Bộ, và nổi tiếng cả về văn xuôi lẫn việc dám nói thẳng.
Người viết để đổi lối viết
Thời Đường, văn chương khoa cử đã thành một lối mòn: câu chữ đối nhau, dùng chữ hoa mỹ, ý thì mỏng. Theo tổng thuật về bộ tám nhà văn lớn đời Đường và đời Tống, Hàn Dũ cùng Liễu Tông Nguyên là hai người lãnh đạo phong trào cổ văn, tức lối viết quay về kiểu văn thời Tiên Tần và Hán, câu ngắn, ý rõ, viết để nói việc chứ không để khoe chữ. Cách đó về sau trở thành nền cho văn nghị luận, thư từ và bài nhớ của người Trung Quốc.
Theo tổng thuật về phong trào văn học đời Đường, các bài của ông được gom lại thành tập Xương Lê tiên sinh tập. Danh tiếng của ông được đời sau đánh giá bằng một câu của Tô Thức: văn của ông dựng lại lối viết đã suy tám đời. Một người viết văn mà được nhớ bằng câu "làm sống lại lối cũ" thì tức là cả một nền văn đã đi lệch trước đó.
Dâng thư can vua
Theo Cựu Đường thư, phần truyện Hàn Dũ, và phần truyện tương ứng trong Tân Đường thư, năm 819 nhằm niên hiệu Nguyên Hoà thứ 14, nhà vua cho rước một khúc xương ngón tay Phật từ chùa Pháp Môn về kinh thành, tổ chức lễ rước rất lớn, trong dân có người bỏ cả nghề để đi lễ. Hàn Dũ dâng một bản tấu phản đối, cho rằng việc ấy làm hại dân và không phải cách trị nước. Bản tấu đó được đời sau gọi là Luận Phật cốt biểu.
Theo truyện Hàn Dũ trong Cựu Đường thư và truyện tương ứng trong Tân Đường thư, nhà vua đọc xong bản tấu thì nổi giận và giáng ông đi làm thứ sử Triều Châu, tức vùng ven biển Quảng Đông. Ông ở Triều Châu khoảng tám tháng; theo bài nghiên cứu về thời gian ông ở đó do Văn phòng Triết học Xã hội Quốc gia Trung Quốc đăng, việc bị đày tới chỗ xa và ốm là bước ngoặt nổi tiếng trong đời ông, nhưng trong tám tháng ấy ông vẫn làm việc: mở việc học, chuộc những người bị bán làm nô, và để lại chuyện dân gian kể về việc ông làm lễ tế cá sấu ở một khúc sông trong vùng.
Tư trị thông giám, quyển 240, cũng chép việc rước xương Phật và việc ông dâng tấu, nên sự việc có hai nguồn sử độc lập ghi lại.
Nói thẳng cũng là một nghề
Cái đáng nể ở Hàn Dũ không nằm ở tính khí. Ông can vua khi biết mình sẽ bị phạt. Sau khi được gọi về, ông lại dâng thư nói về việc quân, rồi nhận việc đi sứ trấn an một vùng quân loạn — chuyện mà các quan khác tìm cách tránh. Đây là mẫu người mà hệ thống quan liêu Trung Quốc thường dùng làm gương cho quan học trò: học rộng mà vẫn để việc nước lên trước.
Ông cũng là người viết những bài quan trọng về giáo dục và về nghề dạy học, trong đó có bản luận nổi tiếng bàn rằng người thầy là người truyền đạo, dạy nghề và giải điều còn nghi — ý chính của bài vẫn được trích trong sách giáo khoa tới ngày nay.
Hai câu thơ về Quế Lâm
Năm 822, bạn ông là Nghiêm Mô đi nhậm chức ở Quế Châu, tức Quế Lâm ngày nay. Theo bản giới thiệu và chú giải bài thơ Tống Quế Châu Nghiêm đại phu in trên các trang văn bản cổ, Hàn Dũ tiễn bạn và viết tám câu, trong đó hai câu tả sông núi Quế Lâm: sông như một dải lụa xanh, núi như cây trâm ngọc bích.
Hai câu đó chính là chỗ mà người đời sau học để nói về Quế Lâm. Người ta dùng nó làm câu mẫu cho cách tả cảnh bằng hai hình so sánh, ngắn và đủ. Cho nên ảnh của tờ báo cũng hay lấy núi Quế Lâm khi nhắc tới ông, dù cả đời ông chưa từng đặt chân lên con sông ấy.
Còn lại gì
Ông mất ở Trường An năm 824. Mộ ông ở Hà Nam, và ở Triều Châu, nơi ông chỉ làm quan tám tháng, người ta vẫn còn đền thờ và kể chuyện ông đuổi cá sấu. Một người đi qua vùng đất đó trong vài tháng, để lại chút công việc và một bài học về việc dùng chức quyền, rồi được nhớ hơn hai nghìn năm sau.
Điều đáng nghĩ là chuyện ông dám nói trái ý vua, và việc đó đưa ông xuống miền nam nóng ẩm. Nếu ở vị trí ấy, bạn sẽ nói hay im?
Nguồn: Cựu Đường thư – 舊唐書 toàn văn (Wikisource); Tân Đường thư – 新唐書 toàn văn (Wikisource); Tư trị thông giám – 資治通鑑 toàn văn (Wikisource)
Năm 822, tiễn một người bạn đi nhậm chức ở Quế Châu, ông viết hai câu mà đời sau dùng để nói về Quế Lâm: sông như dải lụa xanh, núi như trâm ngọc bích.
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.