Quách Thủ Kính
Quách Thủ Kính: đo lại bầu trời rồi đào con sông cho kinh đô
Quách Thủ Kính sinh năm 1231, mất năm 1316, sống trọn đời nhà Nguyên. Theo truyện về ông trong Nguyên sử, ông người Hình Đài, vùng nay thuộc tỉnh Hà Bắc, và được tiến cử với Hốt Tất Liệt khi nhà vua còn đang gây dựng bộ máy cai trị ở miền bắc Trung Quốc.
Người được giao việc nước
Theo Nguyên sử, ông được giao việc thuỷ lợi từ khi còn trẻ, đi khảo sát các dòng sông ở vùng Hình Đài và các châu lân cận, đề xuất việc dẫn nước và đắp đê. Cách làm của ông trong các báo cáo cũng đáng chú ý: ông đo, vẽ và ghi số cụ thể, chứ không trình bày chung chung.
Việc đó đưa ông tới hai chức lớn về sau: coi việc đo trời và coi việc sông ngòi của triều đình. Cùng một người làm cả hai việc là chuyện hiếm, nhưng với ông thì thiên văn và thuỷ lợi có chung một câu hỏi: nước và thời tiết vận động theo quy luật nào.
Dựng đài quan sát khắp nước
Theo bài tổng thuật về giai đoạn này, triều Nguyên cho dựng các điểm quan sát trời trải từ nam tới bắc, gồm hai mươi bảy điểm, xa nhất xuống tới vùng đảo phía nam và lên tới vùng gần Bắc Cực đạo; mười bốn nhà thiên văn được phái đi đo. Ông là người tổ chức việc đo và so các kết quả lại với nhau.
Ở Đăng Phong, tỉnh Hà Nam còn đài quan sát của giai đoạn đó, gọi là Quan Tinh đài. Theo hồ sơ di tích, đài này được xếp vào danh mục di tích trọng điểm quốc gia đợt một vào năm 1961. Trong khu đài, ngoài thân đài cao, còn có một thanh đo bóng dài bốn trượng do thời đó dựng để xác định tiết đông chí.
Con số 365,2425
Kết quả của giai đoạn đo đạc đó là bộ lịch Thụ Thời, ban hành năm 1281. Theo bản giới thiệu về bộ lịch của cơ quan thông tin nhà nước Trung Quốc, bộ lịch này lấy một năm mặt trời dài 365,2425 ngày, chỉ lệch 25,92 giây so với giá trị đo hiện nay; mức chính xác đó tương đương lịch Gregorius mà châu Âu dùng từ năm 1582, nhưng bộ lịch phương Đông được ban hành trước đó hơn ba trăm năm.
Theo bài tổng thuật đăng trên báo mạng của Phượng Hoàng về ông, để ra con số đó, ông lấy sáu lần đo tiết đông chí trong sử cũ — trong đó có lần đo của Tổ Xung Chi — rồi tính lại, và kết luận rằng độ dài năm mặt trời giảm dần theo thời gian; ông đặt mức giảm mỗi trăm năm là một phần vạn ngày. Cũng theo bài đó, con số của ông sát hơn con số trong bộ lịch đời Nam Tống trước đó, và bộ lịch của ông được dùng suốt hơn ba trăm sáu mươi năm, từ đời Nguyên tới đầu đời Thanh.
Con sông cho kinh đô
Việc thứ hai gắn với tên ông là tuyến vận tải cho Đại Đô, kinh đô nhà Nguyên. Theo Nguyên sử, quyển 64 tức phần chép về sông ngòi, năm Chí Nguyên thứ 28 ông dâng đề nghị khơi tuyến sông từ Thông Châu tới Đại Đô: dẫn nước từ thôn Bạch Phù, qua các ngòi và hồ nhỏ, vòng vào thành, dồn lại thành hồ Tích Thuỷ đàm, rồi ra phía đông tới Thông Châu. Sách chép chiều dài tuyến là một trăm sáu mươi bốn dặm lẻ một trăm lẻ bốn bộ, cùng mười hai chỗ chặn nước và hai mươi cửa đập để giữ mức nước cho thuyền đi.
Con sông đó, ngày nay thường được nhắc tới dưới tên Thông Huệ hà, hoàn thành năm 1293. Trước đó, thuyền từ miền nam đưa hàng tới Đại Đô phải đi đường bộ một đoạn cuối, và phần chi phí đắt nhất của tuyến vận tải lại nằm ở đoạn cuối đó.
Cuối đời, ông giữ chức cao trong triều và mất năm 1316, thọ tám mươi sáu tuổi. Một người sống qua bốn đời vua, đo bầu trời rồi đào sông, và để lại một con số mà lịch hiện đại dùng tới nay.
Bạn có bất ngờ khi một bộ lịch châu Á tính năm chính xác tới mức đó từ thế kỷ 13 không?
Nguồn: Nguyên sử – 元史 toàn văn (Wikisource); Phượng Hoàng (ifeng.com – 國學) – “这位河北人,改变了北京”
Lịch Thụ Thời ban năm 1281 lấy một năm dài 365,2425 ngày, chênh với giá trị đo ngày nay 25,92 giây. Bộ lịch đó được dùng hơn ba trăm năm.
Chuyên Gia Trung Quốc đăng bài mới mỗi ngày trên Facebook.